Tọa đàm khoa học: Tác gia cổ điển Việt Nam qua công trình của các nhà nghiên cứu Đông Á hiện đại

Sáng ngày10/5/2016, tại Trường Đại học KHXH&NV đã diễn ra tọa đàm khoa học chủ đề "Tác gia cổ điển Việt Nam qua công trình của các nhà nghiên cứu Đông Á hiện đại" do Nhóm nghiên cứu Hán học phối hợp cùng phòng QLKH-DA tổ chức. 

Đến dự tọa đàm có TS. Trần Anh Tiến - Phó trưởng phòng, ThS. Trần Thị Kim Anh, ThS. Nguyễn Thị Lệ Hằng - Phòng KH&QLDA, TS. Nguyễn Nam - Khoa Đông Phương học, PGS.TS. Nguyễn Đình Phức - Trưởng khoa Ngữ văn Trung Quốc; PGS.TS. Lê Giang - Trưởng khoa, PGS.TS. Nguyễn Công Lý, TS. La Mai Thi Gia, ThS. Nguyễn Văn Hoài - Khoa VH&NN cùng các giảng viên Khoa Ngữ Văn, Đông Phương học, Ngữ văn Trung Quốc, Khoa Sử của Trường Đại học KHXH&NV, Đại học Sư Phạm TP.HCM cùng đến tham dự.

Buổi tọa đàm bắt đầu với báo cáo PGS.TS Nguyễn Đình Phức về “Tình hình nghiên cứu quan niệm thi học của Lê Quý Đôn ở Việt Nam, Trung Quốc, Đài Loan". Báo cáo trên đã xác định lại nội hàm “thi học”, khái quát toàn cảnh nghiên cứu của ba nước về thi học Lê Quý Đôn. Đây là nghiên cứu cung cấp thêm những góc nhìn mới về các tác giả cổ điển Việt Nam dưới con mắt của các nhà nghiên cứu quốc tế, nhất là phần thi học của Lê Quý Đôn. Các khái niệm về lý luận văn học cổ điển, thông qua “thông diễn học” (thông hiểu và diễn giải) mang tính bao quát để tiếp cập một nghiên cứu của học giả Đài Loan (Lâm Duy Kiệt) về thi học Lê Quý Đôn. Một số ý kiến cho rằng Lê Quý Đôn là một nhà bác học, một nhà nghiên cứu có cá tính, tài giỏi nhưng không đặc sắc về mặt thi pháp học. Tuy nhiên có phần hơi giống Hào Dũng (đời Thanh), đọc nhiều, viết nhiều, nhưng chính họ cũng có một số lẫn lộn, mãi sau này có nhiều chỗ được đính chính. Về mảng học thuật, nghiên cứu về nước ngoài, phương Tây có thể nói Lê Quý Đôn rất uyên bác, là nhà nghiên cứu tiên phong. Cần hiểu rõ Lê Quý Đôn chưa hẳn là nhà cải cách như Nguyễn Trường Tộ, hay cách mạng như Phan Bội Châu. Lê Quý Đôn chỉ đọc và viết, giới thiệu, tổng hợp. Hơn nữa, Nho học thời Lê Quý Đôn, có thể nói chưa có sáng tạo và thực tiễn mà chỉ mang tính khảo cứu. Bên cạnh đó, các ý kiến về đóng góp của Lê Quý Đôn về “chuyển bản", cần được đề cập thêm hay làm rõ thêm các “Chú”, “Tiền”, “Sớ” là ba khái niệm có sự khác biệt.

 

Chụp hình lưu niệm với nhóm nghiên cứu Hán học. Ảnh: BTC

Tiếp theo là PGS.TS. Lê Giang báo cáo về “Truyện Kiều của Nguyễn Du: Dịch thuật và Nghiên cứu ở Nhật Bản". Báo cáo rất thú vị, giới thiệu về bản dịch và những câu chuyện về các dịch giả, bối cảnh dịch thuật, cách tiếp cận và ảnh hưởng của Truyện Kiều đối với chính dịch giả. Các dịch giả Nhật có điểm chung là tiếp cận Truyện Kiều từ bản dịch ngôn ngữ khác (Pháp, Trung, Việt, Anh). Vậy, phải xem xét thêm về vai trò của bản trung gian này cũng như sự tiếp nhận của dịch giả đối với bản trung gian này. Bài tự của dịch giả Komatsu viết “Một tác phẩm văn học gắn liền với vận mệnh của một dân tộc như thế là hiếm có trong suốt lịch sử cổ kim Đông Tây”. Điều này cho thấy dịch giả Komatsu đã có quan tâm đến yếu tố văn hóa, lịch sử. Vậy nếu báo cáo mở rộng thêm phân tích một vài đoạn dịch sẽ giúp chúng ta hiểu sâu hơn về quan niệm, cách hiểu về văn hóa (Việt Nam) thông qua tác phẩm.


Phần thảo luận nhấn mạnh thêm về dịch giả Takeuchi sưu tầm, tham khảo cả 5 bản dịch (Trung, Nôm, Pháp, Nhật, Quốc ngữ). Ngoài ra, các dịch giả khác cũng tham khảo nhiều bản dịch một lúc. Tốt nhất phải đối chiếu nhiều bản dịch trung gian và bản gốc với bản dịch tiếng Nhật của họ để làm rõ sự tiếp nhận, văn phong dịch của họ thế nào. Bản dịch tiếng Pháp Truyện Kiều của Nguyễn Văn Vĩnh trước khi xuất bản năm 1942-43, ông đã dịch và giới thiệu trên báo, tạp chí từ năm 1908. Sau đó, Nguyễn Giang (con trai của Nguyễn Văn Vĩnh) đã tặng bản thảo dịch cho Komatsu.


Báo cáo thứ 3 được TS. Phan Thị Thu Vân báo cáo về “Những nghiên cứu về Nguyễn Du của các học giả Trung Quốc, Đài Loan”. Báo cáo đã cung cấp nhiều thông tin bổ ích về tình hình nghiên cứu Nguyễn Du của các học giả Trung Quốc, Đài Loan. Tuy nhiên có nhận định cho rằng GS. Hoàng Dật Cầu có thông thạo tiếng Việt, khi dịch đã tham khảo bản dịch nào? Vì theo GS. Lưu Trí Cường: “GS. Lưu Nhân Bảo có nói GS. Hoàng Dật Cầu không biết tiếng Việt. Khi dịch Truyện Kiều đã dịch từ bản tiếng Pháp, khi cần mới tham khảo bản tiếng Việt”; hay việc dùng thuật ngữ “Hán tịch ở nước ngoài” gắn liền với thuật ngữ “ngoại vi”, “man biên”. Đây là thuật ngữ các nhà nghiên cứu Trung Quốc dùng trong khi các nhà nghiên cứu nước ngoài ít dùng, vì vậy nên tránh và tìm thuật ngữ khác phù hợp hơn. Trong nghiên cứu so sánh, học giả Trung Quốc ít nhiều lấy Trung Quốc làm trung tâm, nên chăng bổ sung thêm các nghiên cứu của học giả, nghiên cứu sinh Việt Nam tại Trung Quốc, Đài Loan. GS. Hà Kim Lan người Việt có quốc tịch Đài Loan, vậy nên chăng đưa nghiên cứu của GS vào danh mục “Tính khả đọc và khả giải của Truyện Kiều”. Nghiên cứu của Trung Quốc cũng nên chia ra 2 giai đoạn: giai đoạn đầu (gắn bó với Việt Nam) và sau này. Thế hệ đầu, tiêu biểu như Hoàng Dật Cầu. Bản dịch của Hoàng Dật Cầu tuy dịch từ bản dịch trung gian (Pháp...) nhưng được đánh là cao nhất. Thế hệ thứ hai tiêu biểu như Đổng Văn Thành, thế hệ được đào tạo và dịch từ bản Quốc ngữ. TS. Nguyễn Nam đánh giá báo cáo khá tốt, đã tổng quát cơ sở dữ liệu nghiên cứu khá đồ sộ trong thời gian ngắn. Việc sử dụng thuật ngữ “Hán tịch ở nước ngoài” nên chăng dịch là “Hán tịch ở những nước khác ngoài Trung Quốc”. Bổ sung cách dịch tên “Truyện Kiều”, phải tìm hiểu lại tên ban đầu của tác phẩm này chính xác là gì. Nên nhấn mạnh ở khía cạnh “tiếp nhận” (đề cao sự sáng tạo và đặc trưng của chủ thể tiếp nhận) hơn là “ảnh hưởng” (so sánh cao thấp, tác động).


TS. Phan Thị Thu Vân cũng bày tỏ quan điểm rằng có nên tiếp cận, phân tích sâu về thi pháp học hay không? cần được xem xét lại. Việc tiếp cận nghiên cứu của học giả Hoàng Linh và GS. Hà Kim Lan sẽ được bổ sung thêm, làm rõ hơn. Cần làm rõ việc tiếp cận tư liệu của các nhà nghiên cứu (có tiếp cận bản gốc, tiếp cận các nghiên cứu Việt Nam hiện đại hay không, có khả năng đọc bản tiếng Việt hay không...), qua đó giúp đưa ra kết luận nghiên cứu chính xác về tác gia cổ điển Việt Nam của họ. 2. Nên đi sâu, phân tích khuynh hướng nghiên cứu của học về tác giả cổ điển Việt Nam, để có cái nhìn toàn cảnh hơn.

Chụp hình lưu niệm cùng các diễn giả tại tọa đàm. Ảnh: BTC 

Phần thảo luận chung, tình hình, khuynh hướng nghiên cứu chung hay cách thức hồi đáp của Nhóm Đề án về kết quả nghiên cứu là điều hết sức quan trọng. Nhóm đề án sẽ có các công bố quốc tế bằng tiếng Trung, Anh, Nhật ở nước ngoài để tăng cường trao đổi học thuật quốc tế; tăng cường thêm khảo sát từ điển để có thêm dữ so sánh cũng là những điều mà nhóm đề án sẽ quan tâm hơn trong thời gian sắp đến.


Ngoài ra, vì các vấn đề liên quan đến nghiên cứu khoa học nên những thuật ngữ, nhận định mà học giả nước ngoài dùng thế nào chúng ta nên giữ nguyên cách dịch như thế, không cần thiết phải dịch né tránh cũng được bàn luận. TS. Nguyễn Nam đã đồng ý cần giữ nguyên các thuật ngữ được học giả nước ngoài sử dụng, ví dụ như “vực ngoại Hán tịch”. Tuy nhiên, không nên tiếp thu dễ dãi, thiếu tinh thần phê phán vì khái niệm “vực ngoại” hàm nghĩa quan hệ bất bình đẳng giữa “trung tâm” và “ngoại vi”. Do vậy, để diễn đạt khái niệm này từ góc độ Việt Nam, nên Việt hóa và chuyển thành “khu vực ngoài Trung Quốc”.


Phòng QLKH-DA

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.