Tọa đàm khoa học "Trung Quốc năm 2015, nhìn về năm 2016 và tác động đến Việt Nam"

Sáng ngày thứ 6 (20/11/2015), Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS) đã phối hợp với Thời báo Kinh tế Sài Gòn (Saigontimes) tổ chức tọa đàm khoa học với chủ đề "Trung Quốc năm 2015, nhìn về năm 2016 và tác động đến Việt Nam". 

Diễn giả khách mời là TS. Trương Minh Huy Vũ (Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM) và TS. Phạm Sỹ Thành Ggiám đốc Chương trình Nghiên cứu Trung Quốc của Viện Nghiên cứu Kinh tế và Chính sách - VEPR).


TS. Trương Minh Huy Vũ trình bày tham luận. Ảnh: SCIS

Mở đầu buổi tọa đàm, TS. Trương Minh Huy Vũ nhấn mạnh việc nhận diện tác động của Trung Quốc đối với các nước láng giềng tuy có vai trò rất quan trọng, nhưng các nhóm nghiên cứu ở khu vực Đông Nam Á và phương Tây đều chưa thống nhất được quan điểm, mà vẫn đưa ra nhiều nhận định khác nhau. Trong đó, điểm quan trọng nhất cần phải nhất mạnh là Trung Quốc đang ở thời điểm chuyển đổi, với GDP không còn tăng trưởng ở mức hai chữ số. Do đó, Trung Quốc hiện đang tự điều chỉnh, và cần phải đặt lại cách tiếp cận mới. 

Cụ thể trong lĩnh vực kinh tế, TS. Phạm Sỹ Thành cho rằng xu hướng phân tích kinh tế Trung Quốc chỉ dựa trên thước đo GDP đã không còn phù hợp. Hai vấn đề cần tập trung khi nghiên cứu kinh tế Trung Quốc hiện nay lại đang rất ít được dư luận quan tâm, đó là vấn đề nợ và vấn đề giảm phát. Trong đó, vấn đề nợ của Trung Quốc bao gồm cả nợ dịch vụ, nợ bất động sản, nợ của Trung Ương và nợ địa phương đã hình thành nên "núi nợ" của Trung Quốc. Còn vấn đề giảm phát, hiện Trung Quốc đang rơi vào trường hợp trầm trọng tương tự như Nhật Bản sau khi ký kết Thỏa ước Plaza (Plaza Accord) năm 1985. Nhưng Trung Quốc vẫn đủ năng lực để xử lý hai vấn đề này, tuy cái giá phải trả là rất lớn - TS. Thành khẳng định.

Trong lĩnh vực chính trị, TS. Trương Minh Huy Vũ nhắc đến những điểm tương đồng trong bối cảnh Trung Quốc sau sự kiện Thiên An Môn 1989. Những đặc điểm Trung Quốc thể hiện từ năm 1989 đến nay là một Trung Quốc ứng biến với tốc độ tăng trưởng đều đặn và cách tiếp cận về hệ thống chính trị rõ ràng hơn, chứ không suy giảm như nhiều học giả thế giới dự đoán sau năm 1989. Từ đây, TS. Vũ liên hệ đến sự hình thành của xu hướng tản quyền ở Trung Quốc cùng khái niệm "thể chế chuyên chính dẻo dai". Dưới thời Hồ Cẩm Đào, quy trình hoạch định chính sách của Trung Quốc tương đối phân tán, cán cân giữa Trung ương và địa phương dần cân bằng hơn. Tuy nhiên xu hướng tản quyền lại có hệ lụy là hạn chế việc triển khai các quyết sách cải cách chủ chốt từ Trung ương, không giải quyết được những vấn đề thực chất của Trung Quốc. Đến thời của Chủ tịch Tập Cận Bình, xu hướng tập quyền đã quay lại với việc nguyên thủ quốc gia có quyền lãnh đạo trực tiếp 11 cơ quan Trung ương tối cao. 

Mặc dù vậy, các quyết sách từ Trung ương vẫn chưa thể được thực hiện đồng bộ mà các địa phương vẫn có những hoạt động để phục vụ các lợi ích riêng biệt. Dự án "Một con đường, một vành đai (OBOR)" hay chiến dịch chống tham nhũng ở Trung Quốc là những điển hình của hiện tượng này. Đại dự án OBOR mặc dù do chính phủ Trung ương đề xuất, nhưng lại có dấu hiệu mỗi địa phương của Trung Quốc phải tự tìm mắc xích gắn kết vào đó. TS. Thành bổ sung thêm các dẫn chứng cho thấy giữa các tỉnh Trung Quốc hiện nay không thống nhất về cách xây dựng mạng lưới giao thông, phần nhiều chỉ vì lợi ích cục bộ từng nơi như Vân Nam và Quảng Tây. 

Trung Quốc cũng đang xây dựng một hệ thống mô phỏng với mục tiêu cạnh tranh ảnh hưởng với các hệ thống hợp tác khu vực, liên khu vực, toàn cầu đang có. Đối với đại dự án OBOR, 2014 được xem là thời điểm đưa ra ý tưởng, 2015 là thời điểm thực hiện các xây dựng cục bộ và 2016 được nhận định như thời điểm để kết nối các dự án riêng lẻ thành đại dự án. Do đó, Việt Nam cần sớm có quan điểm chính thức về việc gia nhập hay không đối với đại dự án này, nhằm kết nối các cảng và tuyến đường giao thông với hệ thống cơ sở hạ tầng của khối CLMV, của ASEAN nói riêng và của OBOR nói chung.


Hội thảo thu hút được giới học giả, giảng viên đến dự. Ảnh: SCIS

Trong phần thảo luận, đa số các câu hỏi đều tập trung vào những tác động nóng từ tình hình chính trị và kinh tế của Trung Quốc đối với các quốc gia láng giềng trong khu vực, đặc biệt là Việt Nam. Đối với vấn đề này, TS. Thành dự báo nếu kinh tế Trung Quốc tiếp tục suy giảm, họ sẽ giảm nhu cầu nhập khẩu các hàng hóa cơ bản, đồng thời xuất khẩu nhiều sản phẩm với giá thấp đến mức không bên nào có thể cạnh tranh được. Những đặc điểm này không chỉ bất lợi cho các doanh nghiệp xuất nhập khẩu của Việt Nam mà cũng gây khó khăn cho các doanh nghiệp trên toàn cầu. 

So sánh giữa các dấu hiệu tăng cường kết nối giữa Trung Quốc với 5 quốc gia Đông Nam Á lục địa và 5 quốc gia Đông Nam Á hải đảo, TS. Vũ cho rằng có một khoảng cách rất lớn và các quốc gia hải đảo là mục tiêu mà Trung Quốc phải nỗ lực nhiều hơn để cạnh tranh ảnh hưởng tại đó. Việc tiếp cận lưỡng dụng các cảng ban đầu là dân sự chuyển thành quân sự ở Đông Nam Á của Trung Quốc cũng là nguyên do khiến cho lo ngại ở các nước Đông Nam Á hải đảo gia tăng. TS. Thành cũng tổng quát 3 chiến lược kinh tế cơ bản ở Đông Nam Á gồm FTA, cơ sở hạ tầng (cảng và đường sắt cao tốc) và khu vực hóa đồng nhân dân tệ. 

Tuy nhiên bài toán lưỡng nan cơ bản của Trung Quốc vẫn tập trung vào sự lựa chọn giữa cải cách hay tăng trưởng về bên trong. Trung Quốc đang tạo ra rất nhiều công cụ để tự điều chỉnh nhưng phần nhiều trong đó không hiệu quả. Và phải mất ít nhất 2 năm nữa để Trung Quốc ổn định trở lại. Doanh nghiệp Việt Nam đang chịu tác động mạnh từ thực tế này.

Kết thúc buổi tọa đàm, các doanh nghiệp và giới chuyên gia đều đồng ý về việc tăng cường kết nối giữa giới học thuật - lý thuyết và những người hoạt động kinh doanh - thực tiễn. Có được nhiều thông tin từ các chuyên gia, các doanh nghiệp sẽ chủ động hơn khi đối mặt với các thị trường đang trong bối cảnh biến động. Không chỉ thế, từ việc tiếp thu xử lý những thông tin mới, các doanh nghiệp sẽ có thêm những chiến lược phòng ngừa mới, cũng như sớm dự báo những kịch bản tiếp theo trên thị trường Trung Quốc để kịp thời đưa ra những định hướng đầu tư phù hợp. 

Trung tâm Nghiên cứu Quốc tế (SCIS)
Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.