Tham gia xếp hạng quốc tế là xu hướng tất yếu của giáo dục đại học Việt Nam

​PGS.TS Huỳnh Thành Đạt - Giám đốc ĐHQG-HCM - đã trả lời phỏng vấn Tạp chí Khám Phá ngay sau sự kiện ĐHQG-HCM vào top 1.000 trong bảng xếp hạng đại học thế giới 2019 của QS.


PGS.TS Huỳnh Thành Đạt - Giám đốc ĐHQG-HCM - Ảnh: LOAN LÊ
 

 

Ban Biên tập Website Trường xin dẫn lại bài trả lời phỏng vấn của PGS.TS Huỳnh Thanh Đạt.

 

“Tham gia xếp hạng và phấn đấu, nỗ lực đạt được thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng thế giới là việc nên làm và có thể xem là một trong những nhiệm vụ của các đại học hàng đầu Việt Nam hiện nay” - PGS.TS Huỳnh Thành Đạt - Ủy viên Ban Chấp hành Trung ương Đảng, Giám đốc ĐHQG-HCM - đã chia sẻ như vậy ngay sau sự kiện ĐHQG-HCM vừa vào top 1.000 trong bảng xếp hạng đại học thế giới 2019 do QS đánh giá.

 

Chủ động tham gia xếp hạng quốc tế

 

* Thưa ông, thứ hạng mà ĐHQG-HCM vừa đạt được thể hiện được những thế mạnh, giá trị nổi bật nào của ĐHQG-HCM? Việc đưa ĐHQG-HCM vào các bảng xếp hạng QS có nằm trong chiến lược phát triển của trường không?

 

Hơn 20 năm qua, ngay từ những ngày đầu thành lập, ĐHQG-HCM đã có chiến lược về công tác đảm bảo chất lượng. Cụ thể, năm 1999, ĐHQG-HCM đã thành lập Trung tâm Khảo thí và đánh giá chất lượng và triển khai các chủ trương lớn về đảm bảo chất lượng. Trong đó, có ba bước lớn về đảm bảo chất lượng của ĐHQG-HCM.

 

Thứ nhất là đảm bảo chất lượng về chương trình đào tạo, mà cụ thể là áp dụng học chế tín chỉ cũng như công nghệ đào tạo tiên tiến CDIO (viết tắt của các từ Conceive - Hình thành ý tưởng, Design - Thiết kế, Implement - Triển khai/Thực thi, Operate - Vận hành) của các trường đại học hàng đầu thế giới.

 

Thứ hai là xây dựng và phát triển hệ thống đảm bảo chất lượng bên trong cũng như tham gia công tác đánh giá, kiểm định chất lượng quốc tế và trong nước.

 

Thứ ba là chủ động tham gia công tác xếp hạng đại học thế giới.

 

Như vậy, việc chủ động tham gia công tác xếp hạng đại học thế giới là một trong ba bước khẳng định chất lượng của ĐHQG-HCM. Trên thực tế, trước đây, ĐHQG-HCM đã được các tổ chức giáo dục xếp hạng nhưng thứ hạng không cao. Có một số tiêu chí ĐHQG-HCM có thực hiện mà QS không cho điểm, vì vậy, năm nay, ĐHQG-HCM đã chủ động gửi thông tin cho QS căn cứ vào các tiêu chí của họ. Sau đó, QS tự kiểm tra, thẩm định và đánh giá.

 

Tuy thành tựu còn khiêm tốn nếu so sánh với các trường đại học trong khu vực Đông Nam Á, nhưng đây là sự ghi nhận công bằng cho những cố gắng, nỗ lực của toàn ĐHQG-HCM và chứng tỏ sự đúng đắn trong phương hướng hoạt động của mình.

 

Đào tạo phải thích ứng với thị trường việc làm

 

* Trong những ngày qua, vấn đề chất lượng đào tạo đại học hiện nay cũng là chủ đề nóng tại Quốc hội. Trong đó, câu chuyện 200.000 sinh viên ra trường không có việc làm cũng đã được mổ xẻ. Theo ông thì mấu chốt của tình trạng này nằm ở đâu và làm sao để giải quyết?

 

Vấn đề không có việc làm là vấn đề toàn cầu, tỷ lệ sinh viên đại học tốt nghiệp không có việc làm đều có ở tất cả các nước trên thế giới. Nhìn chung, tỷ lệ này phụ thuộc vào rất nhiều yếu tố, nhưng ở đây chỉ xin nêu ra ba yếu tố chính.

 

Thứ nhất là tỷ lệ bị tác động từ hiện trạng cũng như tương lai gần của nền kinh tế, cơ cấu ngành nghề, cơ chế tuyển dụng, sự phát triển của khoa học – công nghệ, tính quốc tế hóa của kinh tế từng quốc gia, là một trong những yếu tố khó lường trong thế giới phát triển, biến đổi nhanh ngày nay.

 

Thứ hai là năng lực và cơ cấu đào tạo của các trường đại học, còn nhiều trường có chuẩn đầu ra của sinh viên tốt nghiệp chưa đáp ứng, đón đầu nhu cầu xã hội.

 

Thứ ba là phụ thuộc một phần vào chính đội ngũ sinh viên tốt nghiệp, kể cả gia đình của họ.

 

Để góp phần giải quyết vấn đề sinh viên tốt nghiệp không có việc làm, chúng tôi cho rằng, về phần mình, các trường đại học cần hết sức chú ý và nỗ lực cao trong việc xác định cơ cấu, quy mô đào tạo, và quan trọng nhất là liên tục cải tiến chất lượng đào tạo. Cụ thể là chương trình, phương thức, phương pháp đào tạo, sao cho sinh viên tốt nghiệp có chuẩn đầu ra phù hợp, có kiến thức, kỹ năng, thái độ, năng lực đủ rộng, đủ sâu nhằm có thể có việc làm nhanh chóng và sát với chuyên môn đào tạo, thích ứng với sự thay đổi nhanh về mọi mặt trong thị trường việc làm.

 

* Theo Phó Giáo sư, Việt Nam có nên đưa thêm xếp hạng đại học vào chính sách phát triển giáo dục đại học của quốc gia như một công cụ để nâng cao chất lượng, đồng thời giúp các trường giải trình trách nhiệm với xã hội hay không?

 

Các chỉ đạo của Nhà nước cũng yêu cầu, cần có đại học Việt Nam xếp hạng cao trong các bảng xếp hạng quốc tế.

 

Thực ra, cần nhớ lại rằng, các nước đã cũng như đang phát triển rất quan tâm đến tính cạnh tranh về kinh tế, chính trị, văn hóa và đương nhiên có cả giáo dục. Ở Hoa Kỳ, người ta tiếp tục tăng cường hơn nữa những ưu thế (advantages) của các đại học tầm thế giới (World Class Universities), các nguồn tài chính cho các trường đại học lớn tiếp tục tăng.

 

Ở Nhật Bản, từ 2014 đã có Đề án các trường đại học hàng đầu thế giới (Top Global University Project, trong đó 37 trường đã được chọn lựa để tập trung phát triển.

 

Ở Đức, từ 2004 đã có Đề án cho các trường xuất sắc (Project for Excellent Universities); năm 2015 Đức đã chi 1,9 tỷ euros cho các trường đại học tốt nhất của họ.

 

Nước Nga có Đề án 5-100 nhằm tăng cường tính cạnh tranh của các trường đại học hàng đầu của Nga với các trung tâm đào tạo và nghiên cứu toàn cầu.

 

Ở Trung Quốc, ngay từ 1995 đã có Đề án 211 (211 Project), hỗ trợ hơn 110 trường đại học tăng cường tính cạnh tranh trong thế kỷ 21; năm 1998 có Đề án 985 (985 Project) hỗ trợ cho 39 trường đại học hàng đầu của đất nước; và từ 2012, bắt đầu Đề án 2011 (2011 Project) nhằm phát triển năng lực nghiên cứu cho 38 trường đại học.

 

Vì vậy, tuy còn nhiều khó khăn khách quan và chủ quan, thậm chí có thể còn có những băn khoăn nhất định, song công tác tham gia xếp hạng và phấn đấu, nỗ lực đạt được thứ hạng cao trong các bảng xếp hạng thế giới cần là một trong những công việc cần làm và có thể xem là một trong những nhiệm vụ của các đại học hàng đầu Việt Nam hiện nay.

 

Trong đó, để đảm bảo chất lượng có 3 cấp: cấp chương trình đào tạo, cấp cơ sở đào tạo và cấp xếp hạng quốc tế. Ngành giáo dục đại học Việt Nam đã từng bước tham gia 2 cấp đầu với các tổ chức quốc tế, do vậy xu hướng tham gia xếp hạng quốc tế cũng là xu hướng đương nhiên.

 

* Trân trọng cảm ơn Phó giáo sư!

 

Theo bảng xếp hạng đại học thế giới 2019 vừa được QS (Quacquarelli Symonds - QS World University Rankings) công bố, lần đầu tiên Việt Nam có đại diện lọt top 1.000 trường thế giới là ĐHQG Hà Nội và ĐHQG-HCM. Trong đó, ĐHQG-HCM xếp trong nhóm 701-750 còn ĐHQG Hà Nội nằm trong nhóm 801-1000.

 

Bảng xếp hạng QS là ấn phẩm hàng năm của tổ chức QS có trụ sở tại London (Anh), được xuất bản lần đầu tiên năm 2004. Đây là một trong ba bảng xếp hạng được tham khảo nhiều nhất thế giới cùng với bảng xếp hạng Academic Ranking of World Universities (ARWU) và Times Higher Education World University Rankings.

 

QS xếp hạng các trường đại học dựa trên 6 chỉ tiêu: danh tiếng học thuật (40%), đánh giá của nhà tuyển dụng (10%), số trích dẫn/giảng viên (20%), tỷ lệ giảng viên/sinh viên (20%), tỷ lệ giảng viên quốc tế (5%), tỷ lệ sinh viên quốc tế (5%).

 

VÂN LY (Theo khampha.vn)

 

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.