Toạ đàm khoa học "Nợ nhưng không sợ: Thay đổi sinh kế và vấn đề nợ của các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên"

Sáng ngày 22-9-2015, tại phòng A001, Phòng Quản lý Khoa học – Dự án đã tổ chức toạ đàm khoa học “Nợ nhưng không sợ: Thay đổi sinh kế và vấn đề nợ của các dân tộc tại chỗ ở Tây Nguyên”.

Đến tham dự buổi toạ đàm có TS. Nguyễn Ngọc Thơ, Trưởng phòng; ThS. Trần Thị Kim Anh, Phó Trưởng phòng QLKH-DA; TS. Huỳnh Ngọc Thu, Trưởng Khoa; PGS.TS. Phan Thị Hồng Xuân, Phó Trưởng khoa Nhân học; ThS. Trần Thị Thảo, Phó Trưởng phòng Đào tạo cùng giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học của trường đến tham dự.


Toạ đàm thu hút được các giảng viên, nghiên cứu sinh, học viên cao học đến dự. Ảnh: Việt Thành

Nội dung toạ đàm là kết quả nghiên cứu được thực hiện tại 2 Tây Nguyên gồm (1) huyện Lâm Hà Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng, địa bàn chủ yếu của người K’ho, Mạ, nơi người dân vẫn còn theo chế độ mẫu hệ, tôn giáo chủ yếu là Công giáo và Tin lành, về kinh tế người dân chủ yếu trồng lúa và bắp và (2) huyện Lăk – Đăk Lăk là nơi sinh sống của các tộc người Việt, Ê-đê, M'Nông, Nùng, Tày, Thái, Dao, nơi người dân chuyên trồng bắp, cà phê.

Nội dung chủ yếu của buổi toạ đàm được TS. Ngô Thị Phương Lan vào hiện trạng vay nợ của các tộc người thiểu số tại chỗ trong bối cảnh của sự chuyển đổi từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang nền nông nghiệp theo hướng thị trường. Giống như ở nhiều vùng miền núi khác của Việt Nam, với quan điểm tiến hoá đơn tuyến và triết lý phát triển phương Tây. Kể từ sau Giải phóng 1975, nhà nước đã triển khai nhiều chương trình phát triển nhằm thay đổi các mô hình sinh kế “lạc hậu” của các cộng đồng tộc người thiểu số tại chỗ ở Tây Nguyên bằng các mô hình sinh kế “hiện đại”, trong đó, sản xuất nông nghiệp hàng hoá được coi là giải pháp tối ưu để người dân làm giàu. Nói cách khác, việc bỏ việc canh tác rẫy lúa “lạc hậu” sang trồng bắp và cà phê được cả người dân và các cấp chính quyền địa phương coi là sự chuyển đổi mang tính hiện đại và được khuyến khích.


TS. Ngô Thị Phương Lan trình bày nghiên cứu tại Tây Nguyên. Ảnh: Việt Thành

Bối cảnh nợ của địa bàn nghiên cứu

Giống như ở bối cảnh miền núi Indonesia theo quan sát của Tania (2009), bằng cách chuyển đổi sang cây công nghiệp ngắn và dài ngày, các cộng đồng dân tộc thiểu số tại chỗ Tây Nguyên “bắt đầu được tôn trọng hơn và được coi là những người nông dân thực thụ, biết xây dựng các chiến lược đầu tư làm giàu cho tương lai lâu dài”. Trong bối cảnh diễn ngôn về phát triển, các các hộ gia đình thiểu số cũng tìm mọi cách để chuyển đổi mô hình sinh kế sang kinh tế nông nghiệp hàng hoá. Với cây trồng chủ lực là cà cây cà phê, ngô, những người không gieo trồng do lỗ nhiều vẫn phải tiếp tục trồng vì nếu không sẽ bị cho “là lười”, và vì “nghèo không ai thương”.

Nỗ lực “làm giàu” thông qua sự chuyển đổi này không hề dễ dàng, khác xa với sự mong đợi của nhà nước và từ chính người dân đã và đang nỗ lực “làm giàu”, sự chuyển đổi sinh kế từ nền kinh tế tự cấp tự túc sang sản xuất nông nghiệp theo hướng thị trường đã làm tạo ra nhiều thách thức cho đời sống kinh tế của hầu hết các hộ gia đình. Người dân đầu tư trồng hàng ngàn ha cà phê và rẫy ngô, họ không hề giàu lên mà còn phải gánh những khoản nợ, đặc biệt là nợ không thể trả với lãi suất cao từ các dịch vụ cho vay tư nhân. Nợ xấu, đã và đang trở thành một một vấn đề hết sức trầm trọng có tác động tiêu cực đến đời sống sinh kế và văn hoá xã hội của hầu hết các hộ gia đình tại hai địa bàn khảo sát.

Khác với các hoạt động sinh kế “duy tình” cổ truyền được vận hành theo “đạo lý tự cấp tự túc” với hàng loạt các dàn xếp văn hoá - xã hội và kỹ thuật đi kèm nhằm đảm bảo sự chủ động trong sản xuất, việc chuyển sang trồng cà phê và ngô đã làm cho người dân bị phụ thuộc hoàn toàn vào thị trường bên ngoài cả ở khía cạnh đầu vào và đầu ra của sản phẩm.

Với xuất phát điểm là những người nông dân không có tích luỹ về tài chính, và trong bối cảnh hệ thống tín dụng của nhà nước không hỗ trợ được nhiều, để có thể trồng ngô, trồng cà phê và lúa lai, các hộ gia đình đã phải tìm đến các hệ thống tín dụng phi chính thống với lãi suất cao để có vốn sản xuất. Tỉ lệ lãi suất cao từ các khoản vay bắt buộc cho đầu vào, sự rủi ro của thời tiết, cùng với sự bị động, phụ thuộc lớn vào thị trường bên ngoài cho đầu ra của sản phẩm, đã tạo ra sự mất cân bằng giữa giá trị kinh tế thu được từ cà phê và ngô so với chi phí phải bỏ ra để mua phân bón và các loại đầu vào khác. Sự mất cân đối này đã làm cho tình trạng nợ của gia đình, kể cả đối với các hộ có ít hoặc nhiều đất sản xuất, tích tụ, dồn từ năm này sang năm khác.

Ở bối cảnh mới, nơi các dàn xếp văn hoá – xã hội và kỹ thuật, vấn đề tương hỗ và việc tận dụng các nguồn lực sẵn có trong mô hình sinh kế không còn được vận hành, các hộ gia đình không còn lựa chọn, phải tiếp tục lao vào vòng cuốn của sản xuất thị trường để sinh tồn mặc dù biết càng đầu tư sẽ càng mắc nợ. Hầu hết các hộ dân đều rơi vào cảnh huống “nợ nhưng không sợ”, vì phải tiếp tục vay với lãi suất cao để đầu tư sản xuất. Đầu tư cà phê, bắp là cái đảm bảo cho việc đi vay và hy vọng trả được một phần nợ còn tồn từ các năm trước. Với nguồn thu chỉ có một lần trong năm và chỉ từ một loại sản phẩm, khi càng dấn sâu vào vòng xoáy này, số nợ vay để sản xuất sẽ tiếp tục chồng nợ và lãi suất cho dù các rẫy cà phê và rẫy bắp có cho mùa màng bội thu và bán được giá.

Người dân chấp nhận rủi ro để tham gia sản xuất thị trường. Họ dành tất cả các khu đất phù hợp của gia đình và vay vốn với lãi suất cao để đầu tư trồng nông sản hàng hoá. Tuy nhiên, đặt trong bối cảnh phát triển ở Tây Nguyên hiện nay, người dân mạo hiểm chuyển đổi sinh kế như vậy là do các chương trình vận động phát triển của nhà nước, trong đó các hộ gia đình được hỗ trợ phân bón, cây giống và hứa hẹn những lợi ích kinh tế lớn để thoát nghèo và làm giàu.

Song song các chương trình tuyên truyền và hỗ trợ này, sự hội nhập sâu với lối sống hiện đại đi cùng với những nhu cầu tiêu thụ phụ thuộc thị trường cũng góp phần thúc đẩy họ tham gia sản xuất thị trường với hy vọng gia tăng chất lượng cuộc sống. Khi đã lệ thuộc vào thị trường trong sản xuất và tiêu dùng với các khoản nợ lớn, trong khi các dàn xếp kỹ thuật và văn hoá – xã hội cổ truyền không còn giữ được vai trò đảm bảo an ninh lương thực cho gia đình, các hộ nông dân không còn lựa chọn để thoát ra khỏi vòng xoáy thị trường. Đời sống kinh tế của người dân, vì vậy, cứ thế bị cuốn vào vòng xoáy nợ nần do việc sản xuất cà phê và ngô mang lại.

Nợ và các vấn đề phát triển

Tuy nợ là một hiện trạng phổ biến và để lại các hệ quả rất trầm trọng cho sinh kế của người dân như vậy, song có lẽ do bị ảnh hưởng lớn từ triết lý phát triển theo hướng tiến hoá luận, phải sản xuất theo hướng thị trường thì mới “phát triển”, nên đối với các cán bộ địa phương thì cuộc sống của người dân vẫn đang “rất tốt, người Kinh giúp cho người đồng bào cùng làm ăn cùng phát triển”. Đối với các đối tượng là trung gian trong chuỗi sản xuất, những người đóng vai trò cung cấp vốn cho những người dân, thì việc nợ là điều hiển nhiên vì “người dân tộc không biết làm ăn” “chỉ lo nhậu nhẹt” và đối với bản thân những người chịu nhiều nợ nần thì nợ là do “không có vốn, người Kinh có vốn có tiền làm gì cũng được”. 

Do có cách nhìn không chính xác như vậy nên vấn đề nợ ở nhiều cộng đồng thiểu số tại chỗ Tây Nguyên nói chung, đang góp phần củng cố thêm định kiến “người thiểu số nhận thức thấp và không biết tính toán làm ăn”. Dưới cách nhìn định kiến này, các cấp chính quyền địa phương chưa có những những giải pháp, nỗ lực để giúp người dân thoát khỏi vòng xoáy “nợ chồng nợ”, “nợ miết từ năm này qua năm khác”. Trong tương lai gần, nếu không có những thay đổi ở các cấp độ vĩ mô, vi mô giúp người dân thoát khỏi hiện trạng này, thì các nỗ lực phát triển của nhà nước và các tổ chức quốc tế ở Tây Nguyên sẽ khó đạt được hiệu quả, và cuộc sống của những người thiểu số tại chỗ Tây Nguyên sẽ bị rơi vào trạng thái cùng cực nhất trong xã hội.

Đây là kết quả của đề tại nghiên cứu ứng dụng được TS. Ngô Thị Phương Lan cùng các cộng sự thực hiện. Đề tài nghiên cứu sử dụng các nguồn số liệu định tính và định lượng nhằm làm rõ các nguyên nhân dẫn đến nợ của người dân, lý giải các nguyên nhân vì sao người dân thích vay mượn ở hệ thống phi chính thức với lãi suất cao hơn hệ thống ngân hàng chính thống. Tại buổi toạ, diễn giả cũng đã trả lời nhiều câu hỏi đặt ra từ kết quả nghiên cứu. Trong đó việc làm rõ “nợ nhưng không sợ” không còn là câu chuyện về sinh kế mà hàm chứa nhiều yếu tố văn hoá lịch sử. Hiểu được cốt lõi vấn đề mới đưa ra được các chính sách phù hợp thúc đẩy sự phát triển địa phương. 

Việc tổ chức toạ đàm và công bố các kết quả nghiên cứu của giảng viên là môi trường học thuật và cơ hội chia các sẻ kinh nghiệm, kết quả nghiên cứu mà nhà trường hướng đến, trong đó nhấn mạnh đến tính đa ngành trong nghiên cứu khoa học xã hội các giảng viên trong và ngoài trường.

Phòng QLKH-DA

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.