Hiệu trưởng tham dự Hội thảo khoa học quốc tế tại Trường Đại học Quốc gia Al Farabi Kazakh (Almaty, Cộng hòa Kazakhstan)

Tại Hội thảo, Hiệu trưởng đã có tham luận và báo cáo về đề tài Việt Nam – “giao điểm” của các dải “lụa” giao thương biển Á Châu và thế giới thời cổ.

Vào ngày 19 đến 21-6, Mạng lưới các trường đại học Con đường tơ lụa (Silk-Road University Network, SUN) đã tổ chức Hội thảo, phối hợp với Hiệp hội quốc tế Nghiên cứu Con đường Tơ lụa (the International Association for Silk-Road Studies, IASS) và Trường Đại học Quốc gia Al Farabi Kazakh (Al Farabi Kazakh National University) dành cho các Trường thành viên của SUN tại Almaty, Kazakhstan từ 19-21/06/2017.



Tượng đài Nhà triết học Al-Farabi dựng tại Trường ĐH lấy tên Ông

– Đại học quốc gia Al Farabi Kazakh.


Mạng lưới các trường đại học Con đường tơ lụa (SUN) bao gồm các trường đại học và cơ quan thành viên ở nhiều quốc gia (Hy Lạp, Ấn Độ, Italia, Jordan, Mongolia, Oman, Trung Quốc, Bồ Đào Nha, Hàn Quốc, Liên bang Nga, Thổ Nhĩ kỳ, Sri Lanka, Uzbekistan và Việt Nam) dựa trên sứ mạng:

- Thúc đẩy các sáng kiến của chính phủ hướng tới sự hiểu biết toàn diện về văn hoá của lục địa Á-Âu (Eurasian)

- Tạo diễn đàn cho hợp tác đa quốc gia nhằm tối đa hoá hiệu quả của giao lưu văn hoá

- Xây dựng Trường đại học ảo (cyber university) chung cho khối các trường đại học thành viên Mạng lưới SUN với chương trình đào tạo liên ngành, đa văn hoá, đa ngôn ngữ, tập trung đào tạo và nghiên cứu xuyên biên giới. Với mô hình này, các trường đại học thành viên có thể chia sẻ nguồn tài nguyên.

- Phát triển Mạng lưới Con đường Tơ lụa thành mạng lưới toàn cầu với sự gia nhập của các trường đại học từ các quốc gia ngoài khu vực đã xây dựng tầm nhìn chiến lược hướng đến việc: Tổ chức hiệu quả các lễ hội văn hoá các quốc gia Con đường tơ lụa; Lập diễn đàn cho việc xúc tiến các hoạt động thương mại và trao đổi văn hoá với các quốc gia của lục địa Á-Âu; Tái lập và hiện đại hoá văn hoá truyền thống tại khu vực Con đường tơ lụa sử dụng công nghệ hiện đại, bí quyết kỹ thuật cao; Tạo sự sáng tạo cho nền kinh tế qua việc giao lưu văn hoá đa quốc giaTìm ra tiếng nói chung cho các quốc gia khu vực Con đường tơ lụa, nhất là tạo cơ hội cho mạng lưới kỹ thuật và kinh tế phát triển mạnh dựa trên giao lưu trao đổi văn hoá.


Tại Hội thảo, Hiệu trưởng Nhà trường đã có tham luận và báo cáo về đề tài Việt Nam – “giao điểm” của các dải “lụa” giao thương biển Á Châu thế giới thời cổ. Hơn thập kỷ trước, trong nghiên cứu: “Con đường lụa phía Nam: bằng chứng khảo cổ học về giao thương sớm giữa Ấn Độ và Đông Nam Á”, học giả lão thành ở Đại học London Dr Ian C.Glover (1996:57) từng phát biểu rằng: “Trong trí tưởng tượng phổ biến, thuật ngữ “Con đường tơ lụa” gợi lên ký ức về con đường caravan vĩ đại băng qua sa mạc bằng lạc đà và ngựa thồ từ Loyang ở Bắc Trung Hoa băng qua các cao nguyên khô cằn Trung Á tới Iran, Nam Nga và Cận Đông.Nhưng có những con đường khác và các học giả làm việc ở Đông Nam Á đang quan tâm nhiều hơn đến những đường mòn hướng Nam từ Vân Nam vào Việt Nam, Thailand, Laos và Myanmar, và tất nhiên cả đường biển lớn từ các cảng biển Nam Trung Quốc dọc bờ biển Việt Nam, vòng quanh mũi Cà Mau vào Vịnh Thailand, đến eo biển Malacca, các tuyến đường mòn qua bán đảo liên kết thương mại này với các tàu vận chuyển băng qua vịnh Bengal vào Ấn Độ và Phương Tây”.


Trên tinh thần này, bài tham luận của Hiệu trưởng (đồng tác giả với PGS.TS. Phạm Đức Mạnh) đã mô tả khá chi tiết những phác lộ, qua việc chứng minh bằng rất nhiều di vật quan trọng từ Cổ đại, nhất là các đồ trang sức đá mã não chạm khắc “kiểu La Mã”, chuỗi bằng đá bán quý và chuỗi đơn sắc kiểu “Indo-Pacific”, chuỗi thủy tinh cuộn và chuỗi thủy tinh trang điểm hình mắt kiểu Trung Cận Đông, các sưu tập hạt chuỗi vòng cổ bằng đá chạm khắc, mã não (agate, carnelian, ganet) và thủy tinh xanh – đỏ, chuỗi hình hình học, vật đeo đá quý hình sư tử, khuyên tai đá quartz và cẩm thạch có 3 mấu kiểu “Lingling-O”, vật đeo có hình hai đầu thú; các đồng tiền La Mã, Ấn Độ, Trung Quốc, cả trống đồng kiểu Heger I và các sưu tập đồng mang “Phong cách Đông Sơn”, gương đồng Tây Hán, qua đồng kiểu hậu Chiến Quốc, cùng các sưu tập trang sức vàng, nhẫn vàng chạm hình ngựa và các sưu tập gốm tô màu, đồ sành, gốm trắng Kendi và sứ men lam thuộc nhiều thời kỳ lịch sử .v.v…  Đó là những “vật chứng” vương vãi dọc các lộ trình và hải trình thiên lý từ trước Công nguyên, về sau càng minh định rõ hơn bằng sự hiện diện những phế tích đền đài, bia ký Sanskrit và Tamil sớm (Snskrit & Early Tamil inscriptions), tượng Thần Hindu và Phật giáo các thời kỳ sau, cùng những hình thuyền sinh động khắc vẽ trên đủ loại chất liệu: đồng, đá, đất nung, gỗ, giấy, tranh tường .v.v. Từ những hình thuyền khắc trên các trống đồng Đông Sơn trước Công nguyên ở Bắc Việt Nam chở đầy người hóa trang lông chim và chở cả trống đồng, đến các hình thuyền đơn giản nhất khắc trên bia ký Brahmi sớm ở Duvegala (Sri Lanka); Mô hình thuyền đơn trên gốm Chandraketugarh và hình thuyền chạm nổi Sanchi (India), ca. 1st century AD (Ray, H.P. 1996); Hình thuyền La Mã Sidon, ca.2nd century AD và thuyền hai cột buồm trên đồng tiền Khuan Luk Pak (Nam Thailand) 1st – 2nd cenrury; Hình thuyền trên tranh tường Ajanta (thế kỷ 5 AD) và thuyền khắc trên di sản đá Borobudur (Central Java, the 8-9th centuries (Chutiwongs,N. 1996); Thuyền buồm Buzurg ở Shahriya (900-953 AD) và thuyền xylograph Trung Hoa thế kỷ 15; Hình thuyền trên bình Ning-Po (17th century AD) và trên tranh tường Wat Phrachetuphon, Bangkok, 17th century; Thuyền vận tải “Siamese Junk” of Foreign Merchants Junks (Hiroiji-Koshu, 1737-1784 AD) và hình thuyền Fuzhou trên tranh cuộn Nhật Bản ở Hirado, Japan, 18th century .v.v… Những mạng lưới giao thương Nam Bắc Đông Tây (South – North – East – West Trade Interaction Networks) qua lãnh thổ và lãnh hải Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử như vậy từ lâu cũng được các học giả quan tâm nghiên cứu và phục dựng qua các nguồn thư tịch cổ, qua đồ trang sức các loại chất liệu, qua đồ gốm sứ, trống đồng, gương và vũ khí kiểu “Ko” (Halberd), tượng thờ, đài điện tôn giáo .v.v.  Ở bài này, các tác giả giới thiệu các phát hiện mới ở “những di tích chuẩn” (Etalon sites) – những nghĩa địa và kho tàng chứa di vật hiển thị “sự tiếp biến nhiều chiều và nhiều văn minh” ở Nam Tây Nguyên, Nam Trung Bộ và Nam Bộ (Việt Nam); với các “đặc sản Việt cổ” – trống đồng Đông Sơn (Heger I) và “đặc sản Hoa cổ” – gương đồng Hán (“Tứ li-tứ nhũ” thời Tây Hán và “chủ chí Tam Công” thời Đông Hán), vũ khí đồng kiểu “Ko” thời hậu Chiến Quốc; “đặc sản Hy Lạp” (Mặt nạ vàng kiểu hoàng tử Agamemnon” xứ Micenae) hoặc “đặc sản Ấn cổ” (tượng vàng Linga, hạt chuỗi trang sức thủy tinh là “chế tạo hàng loạt bằng kỹ thuật cuộn-xoắn” tạo hạt chuỗi “Indo-Pacific” (“đỏ Ấn” – “Multisalah”) đơn sắc d ≤ 5mm (thủy tinh hỗn hợp Alkali-kiềm có nhiều Natri-Sodium giầu chất Al và một ít Ca) làm “vật liệu trao đổi hàng hóa” để thương gia Ấn Độ khai triển “quan hệ thương mại” (trade winds) ở khắp Châu lục và  Đông Nam Á đất liền và hải đảo trong khoảng thế kỷ 2-1 BC – 1-2 AD; cả miền duyên hải rất rõ vị thế “Ngã ba đường của các nghệ thuật” (Carrefour des Arts) (Groslier, B.P. 1961) – “Ngã ba đường của các tộc người và các nền văn minh” (Carrefour de Peuple et de Civilisations) (Jansé, O. 1961). Ở thời kỳ lịch sử muộn hơn, các tác giả trình bày thêm về dữ liệu khảo cổ học phản ánh lịch sử giao lưu văn hóa tương hỗ mà cư dân cổ triển khai trên lãnh thổ Việt Nam đương thời. Trong quá khứ, nhiều nhóm người khác nhau đã liên lạc và trao đổi hàng hoá với nhau bằng đường biển và đường thuỷ nội địa. Dựa vào đó, họ đã thông qua và chia sẻ thành tựu văn hoá với sự đóng góp vào sự hình thành và phát triển của các quốc gia và nền văn minh cổ xưa trong khu vực. Các di tích khảo cổ học phong phú và đa dạng đã được khai quật từ các vùng duyên hải và dọc theo sông bao gồm cả nội địa. Đó là các cảng thương mại cổ xưa đã được biết đến từ các khu vực chính như: Vân Đồn, Vạn Ninh, Phố Hiến, Domea, Thăng Long - Kẻ Chợ (miền Bắc Việt Nam), Lạch Trường, Hội Triều, Hội Thống, Thanh Hà, Bao Vinh, Hội An, Thu Xá, Thị Nại, Nước Mặn (miền Trung Việt Nam) và Chợ Bến, Cần Giờ, Cù Lao Phố, Sài Gòn, Bến Nghé, Hà Tiên, Óc Eo-Ba Thê (miền Nam Việt Nam) .v.v. Đó là những chiến trường ghi dấu trong sử sách được quan tâm nghiên cứu như Bạch Đằng Giang, Thị Nại, Cần Giờ, Rạch Gầm – Xoài Mút .v.v… Đặc biệt là những con tàu đắm đã được khai quật trục vớt ở vùng biển phía Nam Việt Nam như Cù Lao Chàm (Hội An), Bình Châu, Bình Thuận, Hòn Cau, Cà Mau, Hòn Đầm - Phú Quốc. Tuy nhiên, vẫn còn nhiều con tàu đắm được ghi nhận ở vùng biền miền Trung và miền Nam Việt Nam. Đó là những bằng chứng quan trọng cho việc nghiên cứu lịch sử hàng hải của Việt Nam trên biển Đông và là tiềm năng to lớn của Khảo cổ học dưới nước và Khảo cổ học hàng hải ở Việt Nam hiện nay. Việt Nam có đường bờ biển dài với nhiều vịnh, hải đảo và cửa sông thuận lợi cho giao thông đường biển và và có một vị trí quan trọng đối với thương mại biển của Đông Nam Á và trên toàn thế giới. Các tác giả minh giải vị thế quan trọng của chuỗi đảo phía Nam Việt Nam như Cù Lao Chàm, Lý Sơn, Côn Sơn, Phú Quốc .v.v… trên con đường thương mại Châu Á và Thế Giới qua Biển Đông. Với nhiều dấu tích trong các cảng thị và bến bãi, các tàu đắm, các trung tâm sản xuất gốm sứ xuất khẩu trong và ngoài nước, các tác giả phác họa bức tranh của các “con đường tơ lụa” – “con đường gốm sứ” một thời sôi nổi (thế kỷ 9-16) và nhấn mạnh sự hội nhập của các quần đảo phía Nam như Côn Sơn vào “mạng mậu dịch quốc tế” này với vai trò quan trọng giống “giao lộ” của các tiểu vùng “trung điểm – tích lũy – tiêu thụ” ở Việt Nam và cả Á châu thời Trung và Cận đại.



Hiệu trưởng Nhà trường tại Hội thảo

 

Sau Hội thảo, Hiệu trưởng đã cùng với Ông Sun-dong Hwang (Chủ tịch mang lưới các trường đại học Con đường tơ lụa, SUN) đã làm việc với Hiệu trưởng Trường Đại học Quốc gia Al Farabi Kazakh – Trường lớn nhất Khzakhstan với trên 20.000 sinh viên và cũng là nơi diễn ra Hội thảo. Các bên đã thảo luận về những hợp tác tiềm năng trong tương lai gần giữa hai Trường.

 



Trường Đại học Quốc gia Al Farabi Kazakh (Almaty, Kazakhstan)

Từ trái sang phải: Ông Bộ trưởng Văn phòng chính phủ Jordan,

Ông Chủ tịch Mạng lưới các Trường Đại học Con đường tơ lụa,

Ông Hiệu trưởng Nhà trường

 


 

Hiệu trưởng Nhà trường cùng Chủ tịch SUN làm việc với Hiệu trưởng Trường ĐH Quốc gia Al Farabi Kazakh

 

Vào tháng 11 năm nay, nhân kỷ niệm 60 năm thành lập Trường, dưới sự tài trợ của SUN, Nhà trường tổ chức Hội nghị Hiệu trưởng các trường đại học Con đường tơ lụa và Hội thảo khoa học quốc tế, quy tụ 65 Hiệu trưởng (cùng phu nhân) từ các Trường đại học lớn trên thế giới. Ngoài ra, 200 sinh viên thuộc hơn 20 quốc gia sẽ đến Việt Nam bằng tàu thủy và giao lưu với sinh viên của Nhà trường. 


Mục đích trọng yếu của sự hợp tác là nhằm tạo ra một Cộng đồng Con đường tơ lụa với những con người hiểu biết lẫn nhau, cùng nhau phát triển vì hòa bình, an ninh và thịnh vượng khu vực – nơi mọi người dân có thể sống hòa thuận với nhau, cùng nhau chia sẻ những ước mơ và hy vọng để hướng đến hình thành nền an ninh và hòa bình thế giới.


CỔNG THÔNG TIN ĐIỆN TỬ

Góp ý
Họ và tên: *  
Email: *  
Tiêu đề: *  
Mã xác nhận:
 
 
RadEditor - HTML WYSIWYG Editor. MS Word-like content editing experience thanks to a rich set of formatting tools, dropdowns, dialogs, system modules and built-in spell-check.
RadEditor's components - toolbar, content area, modes and modules
   
Toolbar's wrapper  
Content area wrapper
RadEditor's bottom area: Design, Html and Preview modes, Statistics module and resize handle.
It contains RadEditor's Modes/views (HTML, Design and Preview), Statistics and Resizer
Editor Mode buttonsStatistics moduleEditor resizer
 
 
RadEditor's Modules - special tools used to provide extra information such as Tag Inspector, Real Time HTML Viewer, Tag Properties and other.