
Sáng 17.5, Phòng Thanh tra - Pháp chế - Sở hữu trí tuệ (TTPC-SHTT), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM) phối hợp với Công đoàn Trường tổ chức buổi Báo cáo chuyên đề “Những điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 và Hướng dẫn thủ tục, quy trình đăng ký quyền tác giả”. Luật này được Quốc hội khóa XV, kỳ họp thứ 3 biểu quyết thông qua ngày 16.6.2022 và có hiệu lực từ ngày 1.1.2023.
Buổi báo cáo tập trung vào các vấn đề chính: (1) Những điểm mới của Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022: liên quan đến hoạt động của cơ sở giáo dục đại học, đặc biệt đối với Nhà trường là quyền tác giả và các hành vi xâm phạm quyền, biện pháp bảo vệ quyền trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học.(2) Hướng dẫn các thủ tục đăng ký quyền, thủ tục xin phép dịch tác phẩm và sao chép tác phẩm phục vụ cho hoạt động giảng dạy, nghiên cứu khoa học.
Chương trình có sự tham dự của viên chức, người lao động và người học có quan tâm - Ảnh: Việt Dũng
Làm rõ vai trò của cơ sở giáo dục liên quan đến sở hữu trí tuệ
PGS.TS Lê Thị Nam Giang cho biết, các cơ sở giáo dục có vai trò là chủ sở hữu các đối tượng sở hữu trí tuệ, chủ thể sử dụng quyền sở hữu trí tuệ, đào tạo nguồn nhân lực, tạo lập tài sản trí tuệ, bảo vệ quyền sở hữu trí tuệ và quản lý, khai thác tài sản trí tuệ. Theo đó, viên chức, người lao động và người học có thể nhận diện tài sản trí tuệ, quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của cơ sở giáo dục. Các đối tượng của quyền sở hữu trí tuệ trong hoạt động của trường đại học bao gồm: giáo trình, tài liệu giảng dạy khác; bài giảng của giảng viên; sách chuyên khảo, sách tham khảo; công trình nghiên cứu khoa học các cấp do giảng viên, học viên thuộc các hệ đào tạo của trường thực hiện; các bài báo khoa học, các báo cáo tại các hội thảo, hội nghị, tọa đàm.
PGS.TS Lê Thị Nam Giang đã tham gia quá trình sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Sở hữu trí tuệ năm 2022 - Ảnh: Việt Dũng
PGS. TS Lê Thị Nam Giang cũng tập trung báo cáo các vấn đề quan trọng về quyền tác giả, bao gồm 5 nhóm chính: Chủ thể quyền tác giả, Nội dung quyền tác giả, Giới hạn và ngoại lệ trong bảo hộ quyền tác giả, Đại diện tập thể quyền, Hành vi xâm phạm quyền tác giả và vấn đề thực thi quyền.
Việc đăng ký quyền tác giả không bắt buộc nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả sáng tạo
Tại buổi báo cáo, ThS. Ngô Phương Trà - Chuyên viên chính Điểm đăng ký của Cục Bản quyền tác giả tại TP.HCM - đã hướng dẫn thủ tục, quy trình đăng ký quyền tác giả và quyền liên quan tại cơ quan có thẩm quyền. Theo khoán 1 Điều 6 Luật Sở hữu trí tuệ về căn cứ phát sinh, xác lập quyền sở hữu trí tuệ, quyền tác giả phát sinh kể từ khi tác phẩm được sáng tạo và được thể hiện dưới một hình thức vật chất nhất định, không phân biệt nội dung, chất lượng, hình thức, phương tiện, ngôn ngữ, đã công bố hay chưa công bố, đã đăng ký hay chưa đăng ký.
ThS. Ngô Phương Trà nhấn mạnh đến việc ban hành quy định về quyền sở hữu đối với những tác phẩm trong các cuộc thi - Ảnh: Việt Dũng
Việc đăng ký quyền tác giả không bắt buộc nhưng có ý nghĩa quan trọng đối với tác giả sáng tạo. Theo ThS. Ngô Phương Trà, việc đăng ký mang nhiều lợi thế như: quy trình thực hiện đơn giản, chi phí thấp và hiệu quả cao trong việc chứng minh quyền.
Khi đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan, cơ quan nhà nước có thẩm quyền để ghi nhận các thông tin về tác giả, tác phẩm, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan. Đây không phải là thủ tục bắt buộc để được hưởng quyền tác giả, quyền liên quan theo quy định của Luật này nhưng khi đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký quyền tác giả, Giấy chứng nhận đăng ký quyền liên quan, các tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ chứng minh quyền tác giả, quyền liên quan thuộc về mình khi có tranh chấp, trừ trường hợp có chứng cứ ngược lại.
Đại diện lãnh đạo Nhà trường trao hoa đến hai báo cáo viên - Ảnh: Việt Dũng
Trong khuôn khổ phần 3 của Buổi Báo cáo chuyên đề, 02 diễn giả đã giải đáp nhiều vấn đề quan tâm của viên chức và người lao động Nhà trường về việc xác định đồng sở hữu, đồng tác giả trong các công trình nghiên cứu các cấp, vấn đề bảo vệ quyền khi có hành vi xâm phạm xảy ra, vấn đề sử dụng các tác phẩm của tác giả nước ngoài sử dụng trong hoạt động giảng dạy tại các đơn vị đào tạo ngôn ngữ...
|
Thành phần chính của hồ sơ đăng ký quyền tác giả, quyền liên quan 1. Tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan có thể trực tiếp hoặc ủy quyền cho tổ chức, cá nhân khác nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan theo cách thức trực tiếp, qua dịch vụ bưu chính hoặc qua Cổng dịch vụ công trực tuyến cho cơ quan quản lý nhà nước về quyền tác giả, quyền liên quan. 2. Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan bao gồm: a) Tờ khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan. Tờ khai phải được làm bằng tiếng Việt có đầy đủ thông tin về người nộp hồ sơ, tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả hoặc chủ sở hữu quyền liên quan; thời gian hoàn thành; tóm tắt nội dung tác phẩm, cuộc biểu diễn, bản ghi âm, ghi hình hoặc chương trình phát sóng; tên tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, tác phẩm được sử dụng làm tác phẩm phái sinh nếu tác phẩm đăng ký là tác phẩm phái sinh; thời gian, địa điểm, hình thức công bố; thông tin về cấp lại, cấp đổi (nếu có), cam đoan về trách nhiệm đối với các thông tin ghi trong tờ khai. Tờ khai do chính tác giả, chủ sở hữu quyền tác giả, chủ sở hữu quyền liên quan ký tên hoặc điểm chỉ, trừ trường hợp không có khả năng về thể chất để ký tên hoặc điểm chỉ. Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch quy định mẫu tờ khai đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan; b) Hai bản sao tác phẩm đăng ký quyền tác giả hoặc hai bản sao bản định hình đối tượng đăng ký quyền liên quan; c) Giấy ủy quyền, nếu người nộp hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan là người được ủy quyền; d) Tài liệu chứng minh là chủ sở hữu quyền do tự sáng tạo hoặc do giao nhiệm vụ sáng tạo, giao kết hợp đồng sáng tạo, được thừa kế, được chuyển giao quyền; đ) Văn bản đồng ý của các đồng tác giả, nếu tác phẩm có đồng tác giả; e) Văn bản đồng ý của các đồng chủ sở hữu, nếu quyền tác giả, quyền liên quan thuộc sở hữu chung. 3. Tài liệu quy định tại các điểm c, d, đ và e khoản 2 Điều này phải được làm bằng tiếng Việt; trường hợp làm bằng ngôn ngữ khác thì phải được dịch ra tiếng Việt. (Điều 50 Luật Sở hữu trí tuệ sửa đổi, bổ sung năm 2022 về Hồ sơ đăng ký quyền tác giả, đăng ký quyền liên quan) |
VIỆT DŨNG - THIÊN PHÚC








