|
VNU LogoHCMUSSH Logo

Để Việt Nam phát triển bền vững

13/08/2026
CHIA SẺ:
Để Việt Nam phát triển bền vững

Khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số đang trở thành những động lực phát triển quan trọng của đất nước. Nghị quyết số 57-NQ/TW về đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số quốc gia; Nghị quyết số 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân; Nghị quyết số 71-NQ/TW về đột phá phát triển giáo dục và đào tạo đều thể hiện tư duy phát triển mới: lấy tri thức, khoa học công nghệ và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nền tảng cho tăng trưởng và năng lực cạnh tranh quốc gia.

Đó là lựa chọn đúng.

Trong thế giới hôm nay, không một quốc gia nào có thể phát triển nhanh và bền vững nếu đứng ngoài cuộc đua về khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo. Việc Chính phủ ban hành Nghị định số 179/2026/NĐ-CP về chính sách học bổng cho người học các ngành khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược cũng là một bước đi cần thiết nhằm đầu tư cho những lĩnh vực quyết định tương lai của đất nước.

Nhưng càng đi sâu vào câu chuyện phát triển, càng xuất hiện một câu hỏi khác: sau công nghệ là gì?

Sau công nghệ là gì?

Muốn phát triển trí tuệ nhân tạo phải có toán học mạnh. Muốn phát triển bán dẫn, vật liệu mới hay công nghệ lượng tử phải có nền tảng vật lý, hóa học và khoa học cơ bản vững chắc. Muốn làm chủ công nghệ phải làm chủ tri thức nền tảng. Không có con đường tắt cho phát triển khoa học công nghệ. Nghị định số 179/2026/NĐ-CP vì vậy là một tín hiệu tích cực, cho thấy sự quan tâm ngày càng rõ hơn đối với các ngành nền tảng và công nghệ chiến lược.

Tuy nhiên, phát triển đất nước không chỉ là câu chuyện của công nghệ, tăng trưởng hay năng suất lao động. Phía sau những con số ấy vẫn là con người. Phía sau những thành tựu công nghệ vẫn là xã hội. Và phía sau mọi chiến lược phát triển cuối cùng vẫn là câu hỏi: chúng ta muốn xây dựng một đất nước như thế nào, một xã hội như thế nào và người Việt Nam như thế nào trong tương lai?

Những điều các con số không nói hết

Nhìn vào những thành tựu phát triển kinh tế - xã hội của đất nước trong nhiều năm qua, có quyền để lạc quan; nhưng nhìn vào đời sống xã hội hôm nay cũng có không ít điều khiến chúng ta phải suy nghĩ.

Đó là tình trạng thực dụng, chạy theo lợi ích vật chất; là những biểu hiện tham nhũng, gian dối, bạo lực, vô cảm vẫn còn diễn ra; là những băn khoăn về lý tưởng sống, trách nhiệm công dân, niềm tin xã hội và khát vọng cống hiến của thế hệ trẻ. Điều đáng lo không chỉ là những hiện tượng tiêu cực cụ thể, mà còn là sự phai nhạt của một số hệ giá trị, của lý tưởng sống và tinh thần trách nhiệm đối với cộng đồng ở một bộ phận xã hội.

Gia đình, cộng đồng và các hệ giá trị xã hội đang biến đổi sâu sắc dưới tác động của kinh tế thị trường, toàn cầu hóa và môi trường số. Nhiều vấn đề mới xuất hiện trong khi không ít giá trị truyền thống đang đứng trước những thử thách chưa từng có.

Những điều đó không thể đo hết bằng tốc độ tăng trưởng hay quy mô GDP. Cũng không giải quyết được bằng những tiến bộ công nghệ. Đó là những vấn đề thuộc về con người, văn hóa, xã hội, thể chế và sự phát triển của một quốc gia.

Đó chính là đối tượng nghiên cứu của khoa học xã hội và nhân văn.

Khi máy móc ngày càng thông minh hơn

Sự phát triển nhanh chóng của trí tuệ nhân tạo đang làm thay đổi gần như mọi lĩnh vực của đời sống. AI có thể xử lý dữ liệu nhanh hơn con người, thay thế nhiều công việc và hỗ trợ ra quyết định trong nhiều lĩnh vực. Nhưng AI không thể trả lời những câu hỏi căn bản nhất của sự phát triển: Những giá trị nào cần được gìn giữ? Công nghệ sẽ phục vụ ai và phục vụ mục tiêu gì?

Nếu khoa học tự nhiên giúp trả lời câu hỏi “có thể làm gì”, thì khoa học xã hội và nhân văn giúp trả lời câu hỏi “nên làm gì” và “làm vì ai”.

Nếu công nghệ tạo ra công cụ, thì khoa học xã hội và nhân văn góp phần xác định mục tiêu, giá trị và phương hướng sử dụng công cụ đó. Một bên mở rộng năng lực của con người, một bên giúp định hướng năng lực ấy phục vụ cho sự phát triển của con người và xã hội. Hai lĩnh vực này không thay thế nhau mà bổ sung cho nhau trong nền tảng tri thức quốc gia.

Thế giới hôm nay không chỉ đối mặt với cạnh tranh công nghệ hay cạnh tranh địa chính trị. Nhiều quốc gia cũng đang đứng trước những thách thức về bản sắc văn hóa, niềm tin xã hội, đạo đức công nghệ và các hệ giá trị trong thời đại AI.

Càng phát triển công nghệ càng cần hiểu con người. Càng hội nhập sâu rộng càng cần bản lĩnh văn hóa và hệ giá trị dân tộc. Càng phát triển nhanh càng cần sự ổn định xã hội và phát triển bền vững.

Một nền tảng không thể thiếu

Nghị quyết số 57-NQ/TW và Nghị định số 179/2026/NĐ-CP đang mở ra những cơ hội rất quan trọng cho khoa học cơ bản, kỹ thuật then chốt và công nghệ chiến lược. Đây là hướng đi đúng và cần được kiên trì thực hiện.

Tuy nhiên, khi nói đến khoa học cơ bản, không thể chỉ nghĩ đến toán học, vật lý hay hóa học. Khoa học cơ bản còn bao gồm cả khoa học xã hội và nhân văn, những lĩnh vực nghiên cứu về con người, xã hội, văn hóa, lịch sử, thể chế và con đường phát triển của đất nước.

Thực tế, trong nhiều phát biểu gần đây, Tổng Bí thư nhiều lần nhấn mạnh vai trò của khoa học cơ bản, nghiên cứu lý luận, khoa học xã hội và nhân văn trong việc nghiên cứu con người, văn hóa và những vấn đề phát triển của đất nước.

Điều đó cho thấy phát triển khoa học công nghệ và đổi mới sáng tạo không chỉ là câu chuyện của công nghệ hay tăng trưởng kinh tế. Đó còn là câu chuyện của con người, của văn hóa, của chất lượng thể chế và của sự phát triển bền vững.

Muốn khoa học xã hội và nhân văn phát huy vai trò của mình không thể chỉ dừng lại ở nhận thức. Cần có những đại học nghiên cứu và viện nghiên cứu đủ mạnh để trở thành nơi sản sinh tri thức mới, nơi đào tạo các thế hệ nhà khoa học và nơi góp phần giải quyết những vấn đề phát triển của đất nước. Cần có những chính sách để phát triển đội ngũ nhà nghiên cứu khoa học xã hội, nhân văn. Đó chính là một trong những điều kiện để hình thành năng lực khoa học nội sinh và năng lực hoạch định chính sách của quốc gia.

Nghị định 179/2026/NĐ-CP là một bước đi rất cần thiết đối với khoa học cơ bản, kỹ thuật và công nghệ chiến lược. Nhưng tinh thần coi trọng khoa học cơ bản cần được nhìn nhận theo nghĩa đầy đủ hơn, bao gồm cả khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhân văn.

Có thể nói, muốn đất nước đi nhanh phải đầu tư cho công nghệ; muốn đất nước đi xa phải đầu tư cho khoa học cơ bản. Nhưng muốn vừa đi nhanh, vừa đi xa một cách bền vững thì phải phát triển đầy đủ cả hai trụ cột của khoa học cơ bản: khoa học tự nhiên và khoa học xã hội, nhân văn.

Bởi cuối cùng, sức mạnh của một quốc gia không chỉ nằm ở những công nghệ mà quốc gia đó làm ra, mà còn ở chất lượng con người, chất lượng xã hội và những giá trị mà quốc gia đó kiến tạo và gìn giữ.

CHIA SẺ:
Tác giả: PGS.TS Phan Thanh Bình
Ngày cập nhật: 13/08/2026

Bài viết liên quan