|
VNU LogoHCMUSSH Logo
+1

Những kỹ năng việc làm cần thiết cho công dân trong tương lai

12/01/2022
CHIA SẺ:
Những kỹ năng việc làm cần thiết cho công dân trong tương lai

Công dân cần trang bị những kỹ năng mới để vững bước trong thế giới công việc tương lai. Một cuộc khảo sát 18.000 đối tượng đến từ 15 quốc gia đã chỉ ra những kỹ năng có thể được các chính phủ ưu tiên.

Công nghệ kỹ thuật số và trí tuệ nhân tạo (AI) đang thay đổi thị trường việc làm. Vì vậy, lực lượng lao động hiện nay cần học các kỹ năng mới cũng như học cách không ngừng thích ứng trước sự xuất hiện của các ngành nghề mới. Bên cạnh đó, cuộc khủng hoảng Covid-19 đã đẩy nhanh quá trình chuyển đổi này. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chưa nắm rõ về các kỹ năng cụ thể mà người lao động cần đến trong tương lai.

Xác định các kỹ năng cơ bản cho công dân

Xem xét các loại công việc sẽ biến mất, và những công việc mới sẽ xuất hiện khi tự động hóa, trí tuệ nhân tạo và robot ngày càng phát triển, Viện Nghiên cứu toàn cầu McKinsey đã đưa ra kết quả: Loại kỹ năng cấp cao sẽ ngày càng trở nên quan trọng. Nhu cầu về các kỹ năng lao động tay chân và các kỹ năng tư duy cơ bản sẽ giảm xuống, nhưng nhu cầu về các kỹ năng công nghệ, các kỹ năng xã hội và thông minh cảm xúc, và các kỹ năng tư duy phức tạp sẽ tăng lên.

Tất nhiên, một số công việc sẽ được chuyên môn hóa. Nhưng trong một thị trường lao động tự động hóa, số hóa và năng động hơn này, tất cả công dân sẽ được hưởng lợi từ việc có một bộ kỹ năng cơ bản giúp họ hoàn thành ba tiêu chí, bất kể họ làm việc trong lĩnh vực nào hay chính trong nghề nghiệp của họ: Gia tăng giá trị ngoài những thứ có thể được thực hiện bởi các hệ thống tự động và máy móc thông minh; Hoạt động trong môi trường kỹ thuật số; Liên tục thích ứng với cách làm việc mới và ngành nghề mới.

Chính phủ các nước rất muốn giúp công dân của họ phát triển trong những lĩnh vực này, nhưng thật khó để đưa ra chương trình giảng dạy và các chiến lược học tập tốt nhất mà không cần biết chính xác về các kỹ năng cần thiết. Theo đó, nhóm tác giả đã sử dụng các nghiên cứu hàn lâm cũng như kinh nghiệm của McKinsey trong việc đào tạo cho người lớn để xác định những kỹ năng cơ bản gồm: kỹ năng tư duy, kỹ năng kỹ thuật số, kỹ năng tương tác liên cá nhân và kỹ năng lãnh đạo bản thân, đồng thời, xác định được 13 nhóm kỹ năng riêng biệt thuộc các danh mục này. Ví dụ, giao tiếp và linh hoạt trong tư duy là hai nhóm kỹ năng thuộc danh mục kỹ năng tư duy, trong khi kỹ năng làm việc nhóm hiệu quả thuộc về danh mục kỹ năng tương tác liên cá nhân. Để chính xác hơn, nhóm tác giả đã xác định 56 yếu tố khác biệt tạo nên tài năng (DELTA) nằm trong các nhóm kỹ năng này. DELTA là sự kết hợp của các kỹ năng và thái độ, chẳng hạn như “khả năng thích ứng” và “dám đương đầu với sự bất ổn” là các thái độ.


56 yếu tố DELTA thuộc 13 nhóm kỹ năng và 4 danh mục kỹ năng. Ảnh: McKinsey & Company

Trình độ thành thạo và kết quả của các yếu tố DELTA

Để tìm ra các mức độ thành thạo, nhóm tác giả xác định mức độ thành thạo mong muốn trong mỗi 56 yếu tố DELTA, sau đó thiết lập bảng câu hỏi đo lường tâm lý để đánh giá mức độ thành thạo của người trả lời dựa trên thanh mức độ này. Theo đó, 18.000 người từ 15 quốc gia đã hoàn thành bảng câu hỏi trực tuyến và được cho điểm trên thang điểm từ 0 đến 100 cho mỗi yếu tố DELTA. Kết quả cho thấy, mức độ thành thạo của người trả lời thấp nhất ở hai nhóm kỹ năng trong danh mục kỹ thuật số - sử dụng, phát triển phần mềm và am hiểu các hệ thống kỹ thuật số. Trong danh mục kỹ năng tư duy, mức độ thành thạo trong nhóm kỹ năng giao tiếp và nhóm kỹ năng hoạch định và cách thức làm việc cũng thấp hơn mức trung bình.


Điểm trung bình về độ thành thạo các yếu tố DELTA được phân loại theo danh mục và nhóm kỹ năng của các quốc gia. Ảnh: McKinsey & Company

Nhìn chung, những người tham gia khảo sát có bằng đại học đạt điểm thành thạo các yếu tố DELTA cao hơn những người không có bằng đại học. Điều này cho thấy, những người tham gia có trình độ học vấn cao hơn được chuẩn bị tốt hơn cho những thay đổi ở nơi làm việc. Tuy nhiên, trình độ học vấn cao hơn không có nghĩa là độ thành thạo tất cả các yếu tố DELTA sẽ cao hơn. Mối quan hệ tương quan giữa trình độ học vấn và độ thành thạo các yếu tố DELTA chỉ xuất hiện khi những yếu tố DELTA này có trong các danh mục kỹ năng tư duy và kỹ năng kỹ thuật số. Nhưng đối với nhiều yếu tố có trong danh mục kỹ năng lãnh đạo bản thân và kỹ năng tương tác liên cá nhân như “tự tin”, “dám đương đầu với sự bất ổn”, “can đảm và chấp nhận rủi ro”, “đồng cảm”, “huấn luyện” và “giải quyết xung đột”, thì không có mối quan hệ nào như vậy. Đối với một số yếu tố DELTA trình độ giáo dục càng cao thì độ thành thạo càng thấp hơn như “khiêm nhường”.


Độ thành thạo các yếu tố DELTA không có mối liên hệ mật thiết với trình độ giáo dục. Ảnh: McKinsey & Company

Kiểm tra độ thành thạo trong các yếu tố DELTA trợ giúp cho mọi người trong công việc, trung bình những người trả lời khảo sát có trình độ thành thạo các yếu tố DELTA cao hơn thường là những người đã được tuyển dụng, có thu nhập cao hơn và mức độ hài lòng trong công việc cũng cao hơn. Giữ tất cả các biến không đổi, bao gồm các biến nhân khẩu học và độ thành thạo trong tất cả các yếu tố khác, nhóm tác giả nhận thấy, công việc ổn định có mối tương quan chặt chẽ nhất với độ thành thạo một số yếu tố DELTA trong danh mục kỹ năng lãnh đạo bản thân, cụ thể là “khả năng thích ứng”, “dám đương đầu với sự bất ổn”, “tổng hợp thông điệp” và “định hướng thành tích”.

Thu nhập cao có mối liên hệ chặt chẽ nhất với độ thành thạo ở bốn nhóm kỹ năng được cho là có mức độ thành thạo thấp nhất theo dữ liệu từ những người được hỏi. Đó là các nhóm kỹ năng “am hiểu các hệ thống kỹ thuật số”, “sử dụng và phát triển phần mềm”, “hoạch định và cách thức làm việc” và “giao tiếp”.

Trình độ kỹ thuật số có quan hệ mật thiết đến mức thu nhập. Một người khảo sát có trình độ thành thạo các DELTA kỹ thuật số đã đạt mức thu nhập cao hơn 41% so với nhóm người có trình độ kỹ thuật số thấp hơn. Số liệu này tương đương 30% đối với nhóm DELTA tư duy, 24% đối với nhóm DELTA lãnh đạo bản thân và 14% đối với nhóm DELTA tương tác liên cá nhân. Điều này cho thấy, bốn yếu tố DELTA có ảnh hưởng sâu sắc đến mức thu nhập gồm: “lên kế hoạch và tổ chức công việc” và “giao tiếp” thuộc danh mục kỹ năng tư duy, “tự tin về bản thân” thuộc danh mục kỹ năng lãnh đạo bản thân và “nhận thức văn hóa tổ chức” thuộc danh mục kỹ năng tương tác liên cá nhân.


Sự thông thạo một số nhóm DELTA nhất định có thể tăng khả năng việc làm. Ảnh: McKinsey & Company

Mức độ hài lòng trong công việc cũng liên quan đến một số yếu tố DELTA nhất định, đặc biệt là danh mục kỹ năng lãnh đạo bản thân. Tất cả các biến bao gồm thu nhập, các biến không đổi, “sức khỏe và động lực bản thân”, “tự tin” và “dám đương đầu với sự bất ổn”, có ảnh hưởng sâu sắc nhất đối với mức độ hài lòng trong công việc của những người khảo sát. Đáng chú ý, độ thành thạo hai kỹ năng “tự tin” và “dám đương đầu với sự bất ổn” thuộc danh mục kỹ năng lãnh đạo bản thân nằm trong ba nhóm DELTA được dự đoán nhiều nhất có ảnh hưởng đến 2 trong 3 kết quả gồm công việc ổn định và thu nhập cao.


Top 3 nhóm DELTA được dự đoán có độ thành thạo ảnh hưởng đến các kết quả: công việc ổn định, thu nhập cao và hài lòng trong công việc. Ảnh: McKinsey & Company

Cách các nhóm DELTA định hình nền giáo dục và đào tạo cho người lớn

Để xác định các kỹ năng công dân cần trang bị trong môi trường làm việc tương lai, đồng thời chỉ ra mức độ thành thạo cần thiết để nâng cao các kết quả liên quan đến công việc như: công việc ổn định, thu nhập và mức độ hài lòng đối với công việc, chính phủ các nước có thể xem xét thực hiện ba biện pháp sau đây:

Thứ nhất, cải cách hệ thống giáo dục. Nghiên cứu của nhóm tác giả cho thấy tương quan giữa các nhóm DELTA như nhóm lãnh đạo bản thân hay nhóm DELTA tương tác liên cá nhân với giáo dục bậc cao còn khá thấp. Vì thế, chính phủ có thể xem xét việc đánh giá và cập nhật chương trình giáo dục để đánh trọng tâm vào các nhóm DELTA phù hợp.

Chính phủ cũng có thể cân nhắc việc tiến hành nghiên cứu sâu hơn. Nhiều nơi đã tiến hành xác định, phân loại các kỹ năng cần thiết cho công dân nhưng ít nơi nào đạt được mức độ nghiên cứu như đã đề cập. Bên cạnh đó, rất ít nơi (nếu có) thực hiện đủ các nghiên cứu cần thiết để xác định phương pháp phát triển và đánh giá tốt nhất các kỹ năng này. Ví dụ, đối với mỗi DELTA trong chương trình học, cần thực hiện nghiên cứu để xác định lộ trình, tiến độ và mức độ lĩnh hội có thể đạt được đối với từng độ tuổi khác nhau, từ đó thiết kế và kiểm tra các chiến lược phát triển cũng như mô hình đánh giá. Các nhóm DELTA khác nhau cần những phương pháp khác nhau: Phương pháp phát triển và đánh giá cho kỹ năng “ý thức và quản lý bản thân” sẽ khác với kỹ năng “hoạch định và cách thức làm việc” hay “phân tích dữ liệu”.

Ngoài ra, chính phủ các nước có thể xem xét việc thành lập các tổ chức nghiên cứu và đổi mới giáo dục nhằm tài trợ nghiên cứu, tạo điều kiện cho các nhà nghiên cứu tiếp cận các trường học để thử nghiệm các giải pháp đổi mới và thiết lập phương pháp tiếp cận DELTA phù hợp. Họ cũng có thể cung cấp dữ liệu và thông tin chi tiết cần lưu ý cho các nhà nghiên cứu và nhà giáo dục tư nhân.

Thứ hai, cải cách hệ thống đào tạo cho người lớn. Phần lớn phản hồi đều đến từ người tham gia khảo sát cũng như các cá nhân trong xã hội đã không còn học tại các hệ thống giáo dục quốc gia. Chính vì thế, việc nâng cao độ thành thạo các yếu tố DELTA rất cần thiết đối với việc đào tạo cho người lớn. Tuy nhiên, thực tế cho thấy, nhóm người này lại có trình độ thành thạo các yếu tố DELTA kỹ thuật số (nhóm DELTA có khả năng cao giúp cải thiện thu nhập) thấp hơn.

Bên cạnh đó, các khóa đào tạo cho người lớn cũng cần được thay đổi. Theo nghiên cứu của nhóm tác giả, danh mục kỹ năng lãnh đạo bản thân là nhóm có khả năng cải thiện thu nhập cao nhất nhưng lại không thường được chú trọng trong các chương trình đào tạo cho người lớn. Ví dụ, khi quét trực tuyến các chương trình đào tạo dành cho người lớn, nhóm tác giả nhận thấy các khóa học hoặc mô-đun để phát triển các nhóm DELTA “hoàn thành mục tiêu”, “ý thức bản thân” hay “quản lý bản thân” thấp hơn 20 lần so với các khóa đào tạo phát triển các nhóm DELTA giao tiếp. Có thể nhiệm vụ cấp thiết là lấp đầy các khoảng trống này để ứng phó thỏa đáng với làn sóng thất nghiệp do đại dịch COVID-19 gây ra.

Các hành động cụ thể có thể khuyến khích việc học tập của người lớn bao gồm: thiết lập một bộ tổng hợp trí tuệ nhân tạo (AI) về các chương trình đào tạo để thu hút học viên người lớn và khuyến khích học tập lâu dài. Các thuật toán AI có thể hướng dẫn người dùng về việc họ cần nâng cao kỹ năng hay đào tạo lại cho một ngành nghề mới và đưa ra danh sách chọn lọc các chương trình đào tạo có liên quan. Để phát triển các thuật toán chính xác, chính phủ sẽ cần thu thập và sắp xếp dữ liệu về nhu cầu thị trường việc làm và kỹ năng, cũng như dữ liệu về các chương trình đào tạo…Bên cạnh đó, các nguồn quỹ khuyến khích tập trung cao vào các yếu tố DELTA. Một số chính phủ trao các khoản trợ cấp học tập suốt đời cho các công dân có thể đăng ký vào các chương trình đào tạo tổng hợp của quốc gia. Để chuẩn bị hành trang việc làm cho công dân trong tương lai, chính phủ các nước có thể rót vốn cho các chương trình đào tạo các yếu tố DELTA phục vụ cho công việc.

Thứ ba, đảm bảo khả năng chi trả của giáo dục trọn đời. Hầu hết trẻ em trên khắp thế giới đều được tiếp cận cấp độ giáo dục tiểu học và trung học cơ sở. Tuy nhiên, không phải tất cả cấp độ giáo dục ban đầu dành cho trẻ (ở độ tuổi tốt nhất để phát triển tư duy và thái độ học tập nhất định) đều có chất lượng cao. Hơn nữa, cấp độ giáo dục này quá đắt đỏ đối với đa số các nước nên rất ít quốc gia thành công xây dựng hệ thống giáo dục đào tạo cho người lớn với chất lượng và giá cả phải chăng. Do đó, cuộc cách mạng công nghệ ngày nay cần thúc đẩy sự mở rộng hơn nữa để đảm bảo khả năng tiếp cận giáo dục toàn diện, chất lượng cao với chi phí hợp lý cho mọi độ tuổi, đảm bảo bao quát các nhóm DELTA cần thiết để chuẩn bị hành trang cho công dân vững bước trong thị trường việc làm tương lai.
 

Ngọc Hân - Diễm Trang - Ánh Trinh

Nguồn: McKinsey & Company

* Ảnh bìa: Pixabay.com

CHIA SẺ:
Ngày cập nhật: 12/01/2022

Bài viết liên quan