
Đó là lời khẳng định của Ngài Shri Subhash Prasad Gupta - Phó đại sứ, Đại sứ quán Ấn Độ tại Việt Nam trong buổi tọa đàm Từ Rāmāyaṇa đến Riềm-kê: Biến thể của sử thi Ấn Độ trong không gian văn hóa Khmer Nam Bộ do Trung tâm Văn hóa học Lý luận và Ứng dụng (ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM) phối hợp cùng Trung tâm Văn hóa Swami Vivekananda, Đại sứ quán Ấn Độ tại Hà Nội đồng tổ chức vào sáng 18.12.2021.
Tọa đàm thu hút 120 nhà nghiên cứu, giảng viên và sinh viên. Ảnh chụp màn hình
Chất mật ngọt kết nối văn minh Ấn Độ - Việt Nam
Phát biểu tại tọa đàm, ngài Shri Subhash Prasad Gupta cho biết hầu hết các quốc gia Đông Nam Á đều có phiên bản sử thi Rāmāyaṇa nhưng có thể thấy bằng chứng lâu đời nhất của sử thi này nằm ở miền Nam Việt Nam - nơi có nền văn minh Champa phát triển mạnh mẽ. Cộng đồng Khmer miền Nam đã tiếp nhận và biến đổi sử thi Rāmāyaṇa thành một tác phẩm văn học kinh điển với cái tên mới là Riềm-kê.
Từ sau thế kỷ XIV, người Khmer và các dân tộc ở Đông Nam Á lục địa đã chịu ảnh hưởng Phật giáo Nguyên Thủy (Nam tông) và dần phát triển hệ phái Phật giáo này thành tôn giáo dân tộc. Theo đà phổ quát của Phật giáo Nguyên thủy, chuyện Riềm-kê của người Khmer cũng dần được biến đổi thành một dạng sử thi Phật giáo. Trong đó, phần nhiều nội dung của cốt truyện được thể hiện trong không gian văn hóa của các ngôi chùa Khmer.
Như vậy, ngài Shri Subhash Prasad Gupta cho rằng sử thi đã có sự giao thoa văn hóa của hai nước nên có thể nói sử thi Rāmāyaṇa là di sản văn hóa phi vật thể chung của Ấn Độ và Việt Nam.
“Hai đất nước đã sử dụng Rāmāyaṇa để truyền bá những giá trị đạo đức cùng luân lý trong xã hội suốt hàng thiên niên kỷ. Đó là sự hy sinh, chung thủy, lý tưởng, đạo đức, nghĩa vụ,... Đồng thời sử thi hướng đến mối quan hệ lý tưởng giữa cha và con trai, giữa những người anh em ruột thịt, giữa vợ và chồng, cũng như vua chúa đối với thần dân của mình”. - Phó đại sứ tự hào.
Đồng thời, các nhà nghiên cứu đều đồng ý rằng sử thi là sự quy tụ những giá trị tinh hoa, thẩm mỹ của Ấn Độ nên tác phẩm ngày càng phổ biến bất kể không gian và thời gian.
Sử thi Riềm-kê: Biến thể của Rāmāyaṇa trong đời sống văn hóa Khmer Nam Bộ
Từ đó, TS. Lê Hoàng Dũng - Phó Hiệu trưởng nhà trường - nhận định sử thi Rāmāyaṇa và Riềm-kê cần được nghiên cứu dưới nhiều phương diện khác nhau, đặc biệt là nghiên cứu liên ngành và xuyên văn hóa để tìm ra những giá trị quan trọng của hai tác phẩm sử thi của hai dân tộc Việt Nam và Ấn Độ. “Trong xu hướng bảo tồn và phát giá trị văn hóa của người Khmer Nam Bộ hiện nay, chúng tôi cho rằng việc nghiên cứu sử thi Riềm-kê sẽ góp phần quảng bá và tôn vinh văn hóa phi vật thể của người Khmer Nam Bộ, góp phần kết nối mối quan hệ quốc tế với Ấn Độ”. - Phó hiệu trưởng nhấn mạnh.
Với tham luận Sử thi Rāmāyaṇa và những ảnh hưởng ở Việt Nam, TS. G. B. Harisha (Nguyên giám đốc Trung tâm Văn hóa Ấn Độ SVCC) chỉ ra điểm khác biệt lớn nhất của Rāmāyaṇa biến thể Riềm-kê là hình tượng thần khỉ Hanuman. Nếu trong Rāmāyaṇa, Hanuman luôn thể hiện sự tôn kính với Sita, còn Sita vì nhớ thường chồng mà nàng không biểu thị cảm xúc vui vẻ. Do đó, Hanuman và Sita có khoảng cách nhất định, minh chứng là trong các bức họa, Hanuman thường có cử chi chắp tay khi ở cạnh Sita. Còn ở Riềm-kê, hình ảnh Hanuman được xây dựng dựa trên tính cách vui nhộn của loài khỉ, đồng thời thần khỉ và Sita cũng thường xuyên vui đùa với nhau.
Sử thi Rāmāyaṇa được biểu diễn trên sân khấu Ấn Độ. Ảnh chụp màn hình
“Mặc dù 2 bộ sử thi khác nhau về tên gọi và một chút về hình thức nhưng đều mang bộ giá trị cao quý về tình cảm gia đình, quan hệ xã hội, tình yêu thiên nhiên,... Đặc biệt, hình tượng Rāmāyaṇa trong 2 bộ sử thi đều khắc họa rõ nét những giá trị tôn kính nhất của Đức Phật của Phật giáo nguyên thủy”. - TS. G. B. Harisha nhấn mạnh.
Thực tế, đối với người Khmer Nam Bộ, Riềm-kê chỉ còn là một câu chuyện dân gian với nhiều dị bản do những biến đổi từ lối kể chuyện truyền miệng qua nhiều thời đại khác nhau của lịch sử. Hiện nay, một phần trong câu chuyện của Riềm-kê được thể hiện qua đời sống văn hóa, nghệ thuật của người Khmer.
Là nhà nghiên cứu lâu năm về sử thi Riềm-kê, NSƯT. NCC Thạch Sết (ĐH Trà Vinh) đã nêu một số loại hình nghệ thuật lưu giữ sử thi. Thứ nhất, điêu khắc câu chuyện trên đá, kim loại, gỗ, tạc tượng bằng xi măng,... Thứ hai, dệt câu chuyện trên vải Hôl ở huyện Tịnh Biên, An Giang. Thứ ba, vẽ trên tường chùa, trên vải, trên kính,.... Thứ tư, câu chuyện được lưu giữ qua văn học truyền miệng và văn học viết (văn vần và văn xuôi trên bia đá, SắtTra và sách giấy. Thứ năm, lưu giữ qua hình thức sân khấu (Rô Băm và Dù Kê).
Ngoài ra, tọa đàm còn lắng nghe nhiều tham luận từ các chuyên gia như Múa Riềm-kê trong các ngôi làng của người Khmer Nam bộ (TS. Phan Anh Tú, giám đốc Trung tâm Văn hóa học lý luận và ứng dụng, Mão và mặt nạ trong múa Riềm-kê; Những sáng tạo văn hóa văn hóa của người Khmer Nam Bộ (ThS. Sơn Cao Thắng, ĐH Trà Vinh), Dấu ấn của Rāmāyaṇa tại các nước Đông Nam Á (PGS. TS. Đỗ Thu Hà, ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HN),...
TƯỜNG VI








