|
VNU LogoHCMUSSH Logo
+1

Bài viết "Quản lý trong lĩnh vực giáo dục thời thuộc địa và những vấn đề thực tiễn hiện nay"

14/10/2021
CHIA SẺ:
Bài viết "Quản lý trong lĩnh vực giáo dục thời thuộc địa và những vấn đề thực tiễn hiện nay"

MỤC LỤC:

Khoa Lưu trữ học - Quản trị văn phòng xin gửi đến bạn đọc bài viết khoa học mang tên Quản lý trong lĩnh vực giáo dục thời thuộc địa và những vấn đề thực tiễn hiện nay của tác giả TS Lê Hữu Phước - giảng viên bộ môn Quản trị văn phòng của Khoa. Bài viết đã được đăng trên Tạp chí Quản lý nhà nước, ISSN - 2354-0761, số 306 (7/2021). 

NỘI DUNG BÀI VIẾT

I. Chính quyền thực dân Pháp thiết lập hệ thống giáo dục thuộc địa ở Việt Nam
Sau 26 năm tiến hành chiến tranh xâm lược (từ 1858 đến 1884), thực dân Pháp lần lượt đánh chiếm Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ rồi thôn tính toàn bộ lãnh thổ Việt Nam. Ngay trong quá trình xâm chiếm và thiết lập ách cai trị, chính quyền thuộc địa đồng thời tổ chức nền giáo dục theo mô hình phương Tây, thay thế dần nền giáo dục Nho học. Theo Quyết định ngày 8/5/1862 của Chuẩn Đô đốc Bonard, ngôi trường Thông ngôn đầu tiên được thành lập tại Sài Gòn . Kể từ đó cho đến cuối thời Pháp thuộc, có thể chia quá trình hình thành và phát triển hệ thống giáo dục thuộc địa thành 3 giai đoạn: 
1. Từ thập niên 60 của thế kỷ XIX đến trước năm 1906
Đây là giai đoạn những cơ sở giáo dục hình thành và hoạt động chủ yếu trên địa bàn Nam Kỳ – thuộc địa trực trị của thực dân Pháp. Những ngôi trường Pháp - Việt đầu tiên lần lượt ra đời trong những năm 1861-1862 và đến năm 1874 nền giáo dục ở Nam Kỳ đã có hai bậc học: tiểu học và trung học . Năm năm sau, theo Nghị định ngày 17/3/1879 của Thống đốc Nam Kỳ, hệ thống giáo dục được chia thành ba cấp I, II, III, vận hành theo những quy chuẩn giáo dục của nước Pháp .
Ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ, sau khi dập tắt phong trào chống Pháp dưới ngọn cờ Cần Vương, chương trình giáo dục bậc tiểu học với nội dung giảng dạy bằng tiếng Pháp được tổ chức theo Quyết định ngày 12/3/1885; tuy nhiên “việc giảng dạy ngôn ngữ bản xứ là chữ quốc ngữ và chữ Hán được thực hiện bên cạnh các buổi học tiếng Pháp” . 
Song song với việc thiết lập nền cai trị trên toàn Liên bang Đông Dương, thực dân Pháp đẩy mạnh công cuộc “khai hóa”, đúng như tuyên bố của Toàn quyền Đông Dương Paul Doumer: Giáo dục là “một trong những hình thức hữu hiệu nhất và vẻ vang nhất… trong tiến trình xâm nhập” .
2. Giai đoạn từ 1906 đến 1916 
Khởi đầu giai đoạn này là cuộc cải cách giáo dục lần thứ nhất, do Toàn quyền Đông Dương Paul Beau khởi xướng. Ngày 8/3/1906, Hội đồng Hoàn thiện giáo dục bản xứ được thành lập nhằm nghiên cứu cải tổ nền giáo dục cũ, thay đổi các kỳ thi Nho học ở Bắc Kỳ và Trung Kỳ. 
Theo đề nghị của Hội đồng, ngày 16/5/1906 Toàn quyền Paul Beau ký Nghị định thành lập Đại học Đông Dương  – trường đại học đầu tiên theo mô hình Châu Âu ở Việt Nam, nhằm hai mục đích: vừa hạn chế số lượng thanh niên Việt Nam sang Pháp du học, vừa để “chứng minh chính quyền thực dân muốn đem lại cho giới tinh hoa trẻ một nền đại học có chất lượng” . Ý đồ của chính phủ Pháp cũng như chính quyền thuộc địa là “cương quyết cắt đứt mối dây liên hệ giữa giới trí thức Đông Dương với truyền thống, hướng tới hình thành một diện mạo hoàn toàn mới cho trí thức hiện đại Việt Nam nói riêng và Đông Dương nói chung” . 
Ngày 30/10/1906, Toàn quyền Paul Beau ban hành Nghị định thành lập trường Pháp - Việt ở các địa phương Trung Kỳ. Ngày 16/11/1906, Thống sứ Bắc Kỳ ban hành Nghị định tổ chức hệ giáo dục bản xứ ở Bắc Kỳ gồm ba bậc: ấu học, tiểu học, trung học .
Như vậy, đến thập niên đầu của thế kỷ XX, hệ thống giáo dục ở Việt Nam đã có đủ các bậc học (từ ấu học đến cao đẳng/ đại học); việc giảng dạy hoàn toàn bằng chữ Hán đã bị xóa bỏ. Thiết chế quản lý giáo dục trong toàn Liên bang Đông Dương cũng như ở từng xứ vận hành ngày càng chặt chẽ, hiệu quả hơn.
3. Giai đoạn từ 1917 đến 1945
Ngày 21/12/1917, Toàn quyền Albert Sarraut ban hành bộ “Học chính tổng quy” (Règlement general de l’Instruction publique), mở đầu cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, phân định nền giáo dục công tại Đông Dương thành hai hệ thống: giáo dục phổ thông và dạy nghề. Trong đó, giáo dục công tại các trường Pháp - Việt gồm ba cấp: đệ nhất cấp (hệ tiểu học), đệ nhị cấp (hệ trung học) và đệ tam cấp (hệ cao đẳng). Đến ngày 18/1/1938, Toàn quyền Brévié ra Nghị định tổ chức lại bậc giáo dục sơ học và trung học . 
Ở bậc cao đẳng, sau gần 10 năm bị đóng cửa (từ 1908) do làn sóng đấu tranh mạnh mẽ của các phong trào chống Pháp, Đại học Đông Dương hoạt động trở lại vào năm 1917, đào tạo các ngành Y - Dược, Thú y, Nông Lâm, Luật - Hành chính, Sư phạm. Đến thời điểm này, Đại học Đông Dương vẫn chưa được công nhận tương đương với các đại học bên Pháp do thiếu nguồn nhân lực (cả người dạy lẫn người học), kinh phí hoạt động hạn hẹp. 
Có thể thấy với cuộc cải cách giáo dục lần thứ hai, hệ thống giáo dục ở Đông Dương nói chung và Việt Nam nói riêng có những chuyển biến lớn trên nhiều phương diện, từ chương trình đào tạo đến hệ thống tổ chức và cơ chế quản lý điều hành. 
II. Các thiết chế quản lý nhà nước về giáo dục thời thuộc địa
Để quản lý, điều hành và phát triển hệ thống giáo dục thuộc địa, chính quyền thực dân đã thành lập nhiều cơ quan, tổ chức, hội đồng… với chức năng, nhiệm vụ được quy định rạch ròi, cụ thể. Dưới đây là một số thiết chế có vai trò trọng yếu, được trình bày theo trình tự thời gian thành lập và tạm chia thành hai nhóm: (1) các cơ quan quản lý, (2) các tổ chức tư vấn. Các cơ quan, tổ chức này đều hình thành từ quyết định của người đứng đầu chính quyền các cấp, từ cấp cao nhất (Tổng thống Pháp) đến cấp liên bang (Toàn quyền Đông Dương) và cấp kỳ (Thống đốc Nam Kỳ, Thống sứ Bắc Kỳ, Khâm sứ Trung Kỳ).
Các cơ quan quản lý
- Ngày 17/3/1879, Thống đốc Nam Kỳ ban hành Nghị định tổ chức Sở Học chính Nam Kỳ trực thuộc Giám đốc Nha Nội chính; đồng thời quy định các loại trường công Pháp - Việt kiểu mới, chế độ tài chính, chương trình học, hệ thống bằng cấp… Riêng điều 42 của Nghị định “quyết định thành lập Ủy ban Học chính cao cấp, chịu trách nhiệm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến học chính và thanh tra các trường học” . 
Muộn hơn Nam Kỳ, Ban Học chính Trung Kỳ và Bắc Kỳ được thành lập theo Nghị định ngày 17/2/1890 của Toàn quyền Đông Dương. Tuy nhiên, đây chưa phải là cơ quan quản lý giáo dục theo đúng chức năng, nhiệm vụ của nó . Gần cuối năm 1905, khi Tổng thống Pháp ban hành Sắc lệnh thành lập Nha Học chính Đông Dương, các Sở Học chính Trung Kỳ và Bắc Kỳ mới chính thức hình thành.
- Ngày 14/11/1905, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh thành lập Nha Học chính Đông Dương . Đây là cơ quan quản lý giáo dục của Pháp trên toàn Đông Dương, trực thuộc là Sở Học chính các kỳ . Có lúc Nha Học chính bị giải thể, nhưng sau đó được tái lập. Sắc lệnh ngày 2/5/1920 của Tổng thống Pháp về việc lập chức Giám đốc Nha Học chính nêu rõ: “Nha Học chính Đông Dương đặt dưới quyền của Toàn quyền, do Giám đốc Nha quản lý”, có các chức năng, quyền hạn: chỉ đạo và giám sát việc quản lý các trường cao đẳng, trung học và kỹ thuật; giám sát các trường trung học tư nhân theo luật định; kiểm soát về kỹ thuật và chuyên môn tại các trường tiểu học và dạy nghề công; đề xuất các biện pháp nhằm phát triển nền học chính ở Đông Dương… .
Các tổ chức tư vấn
- Hơn 4 năm trước khi thành lập Sở Học chính Nam Kỳ (ngày 17/3/1879), ngày 17/11/1784 Quyền Thống đốc Nam Kỳ đã ban hành Quyết định về việc đặt quy chế cho ngành học chính. Điều 6 của Quyết định này có nội dung: “Thành lập Ủy ban Học chính thường trực chịu trách nhiệm nghiên cứu các vấn đề liên quan đến học chính và thanh tra các trường học”. Thành phần Hội đồng gồm: Giám đốc Nội chính (hoặc Tổng thư ký) làm Chủ tịch, cùng các “quan cai trị” Sài Gòn, Chợ Lớn, cha xứ Sài Gòn, hiệu trưởng Trường Bản xứ và Pétrus Trương Vĩnh Ký… . 
- Ngày 8/3/1906, Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục bản xứ được thành lập theo Nghị định của Toàn quyền Đông Dương để thực hiện các nhiệm vụ: “nghiên cứu mọi vấn đề liên quan đến thiết lập hoặc cải tổ nền giáo dục bản xứ; hợp tác với các nhà xuất bản [trong việc xuất bản sách giáo khoa]; nghiên cứu cách thức tuyển dụng và đào tạo giáo viên bản xứ…”. Hội đồng còn có nhiệm vụ quan trọng là “nghiên cứu những điều kiện để thành lập và hoạt động của một trường đại học, gồm các môn giảng dạy ở bậc đại học dành cho người bản xứ và người châu Á” (chính từ đề nghị của Hội đồng này, Đại học Đông Dương đã được thành lập). Trong thành phần Hội đồng, Chủ tịch là Hiệu trưởng Trường Viễn Đông Bác Cổ, Phó Chủ tịch là Giám đốc Nha Học chính Đông Dương, hơn 1/3 số ủy viên là người Việt . Đến ngày 16/5/1906, Toàn quyền Đông Dương tiếp tục ra Nghị định cho thành lập Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục bản xứ ở từng xứ (Nam Kỳ, Bắc Kỳ, Trung Kỳ, Campuchia, Lào) để nghiên cứu các vấn đề giáo dục mang tính chất đặc thù của mỗi xứ. Các hội đồng cấp xứ (kỳ) trực thuộc Ủy ban thường trực Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục bản xứ toàn Đông Dương .
- Với việc ban hành bộ “Học chính tổng quy” (ngày 21/12/1917), một tổ chức có chức năng “hướng dẫn thực hiện các quyết định của Toàn quyền trong việc giải quyết các vấn đề liên quan đến phát triển học chính tại Đông Dương” được thành lập, đó là Hội đồng Tư vấn Học chính. Toàn quyền Đông Dương là Chủ tịch Hội đồng, các Phó Chủ tịch là Tổng Thanh tra Học chính và Trưởng ban chỉ đạo bậc Cao đẳng; thành viên gồm 5 “quan cai trị” phụ trách dân sự, một số nhà giáo dục, các viên chức làm việc trong các lĩnh vực nông nghiệp, công nghiệp, thương mại… Với thành phần nêu trên, nhất là sự có mặt của Toàn quyền ở vị trí Chủ tịch, có thể thấy Hội đồng Tư vấn Học chính giữ vai trò quan trọng hơn so với Hội đồng Hoàn thiện Giáo dục bản xứ thành lập hơn 10 năm trước.
Theo Nghị định ngày 18/9/1924 của Toàn quyền Đông Dương, Hội đồng Tư vấn Học chính có chức năng “cho ý kiến về các vấn đề phát triển nền học chính”; đồng thời quy định mỗi xứ (kỳ) đều thành lập Hội đồng tư vấn học chính với thành phần gồm các “quan cai trị”, các nhà chuyên môn trong lĩnh vực giáo dục, thành viên các phòng thương mại, canh nông, kỹ nghệ và đại diện các phòng tư vấn bản xứ… 
- Bên cạnh Hội đồng Tư vấn Học chính Đông Dương, tại nước Pháp còn có Ủy ban Tư vấn Giáo dục thuộc địa cấp cao (được thành lập từ ngày 18/1/1895, Chủ tịch Hội đồng là Bộ trưởng Bộ Thuộc địa). Đến ngày 19/10/1906, Tổng thống Pháp ra Sắc lệnh cải tổ Ủy ban, quy định rõ: “Ủy ban chịu trách nhiệm xem xét các vấn đề liên quan đến: tổ chức cơ quan học chính tại các thuộc địa; tổ chức sư phạm: phương pháp, chương trình và giáo trình; tuyển dụng nhân sự, thành lập và giám sát các trường sư phạm tại thuộc địa…” .
Như vậy, trong quản lý nhà nước về giáo dục, chính quyền thuộc địa đã thiết lập và duy trì song hành hai thiết chế: một bên là các cơ quan quản lý, điều hành; một bên là các tổ chức tư vấn, hướng dẫn. Nghiên cứu sâu chức năng, nhiệm vụ, hoạt động của các cơ quan và tổ chức này, sẽ đúc kết được những vấn đề lý luận và thực tiễn phục vụ thiết thực cho công tác quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục hiện nay.
III. Những vấn đề đáng quan tâm từ thực tiễn quản lý nhà nước trong lĩnh vực giáo dục 
Trước hết, cần khẳng định dứt khoát sự khác biệt lớn, thậm chí đến mức đối lập về mục tiêu và bản chất của hệ thống giáo dục thời thuộc địa với “nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại” của đất nước hiện nay. Nguyễn Ái Quốc từng chỉ rõ: Dưới chế độ thực dân, “trường học lập ra không phải để giáo dục cho thanh niên Việt Nam một nền học vấn tốt đẹp và chân thực, mở mang trí tuệ và phát triển tư tưởng cho họ… Vấn đề nào đó liên quan đến chính trị, xã hội và có thể làm cho người ta tỉnh ngộ đều bị bóp méo và xuyên tạc đi” . Đó là một đặc trưng không thể phủ nhận của chính sách ngu dân và đầu độc văn hóa mà thực dân Pháp ra sức thực thi dưới thời Pháp thuộc.
Nhưng xét ở góc độ quản lý nhà nước, nếu nhìn nhận một cách khách quan, có thể thấy hệ thống cai trị thuộc địa có những điểm mới, thể hiện “tính trội” của một thiết chế quản lý hiện đại so với cung cách quản lý hành chính của triều Nguyễn trước đó. Riêng ở lĩnh vực giáo dục, từ thực tế lịch sử thời kỳ cận đại, có thể đúc kết mấy vấn đề đáng quan tâm nghiên cứu để vận dụng trong bối cảnh hiện nay:
1. Xác lập và quy định rạch ròi chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn, vai trò của từng cơ quan, tổ chức, đơn vị trong hệ thống quản lý giáo dục; thực hiện mạnh mẽ việc phân cấp quản lý giáo dục.
Dưới thời Pháp thuộc, đây là một vấn đề được chính quyền thuộc địa thực hiện có hiệu quả với thiết chế quản lý gọn nhẹ, nhưng phát huy tác dụng cao.
Trong khi đó, như đánh giá của Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI, tháng 11/2013), cho đến những năm gần đây công tác “quản lý giáo dục và đào tạo còn nhiều yếu kém”; “việc phân định giữa quản lý nhà nước với hoạt động quản trị trong các cơ sở giáo dục, đào tạo chưa rõ. Công tác quản lý chất lượng, thanh tra, kiểm tra, giám sát chưa được coi trọng đúng mức” . Báo cáo chính trị tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII (tháng 1/2021) cũng chỉ ra nhược điểm: “Đổi mới tư duy và hoạt động giáo dục và đào tạo chưa đáp ứng tốt yêu cầu đặt ra… Quản lý nhà nước và quản lý - quản trị nhà trường còn nhiều hạn chế” . 
Rõ ràng đây là một “điểm nghẽn” trong quản lý giáo dục, cần được tích cực giải quyết theo định hướng: “Đổi mới căn bản công tác quản lý giáo dục, đào tạo, bảo đảm dân chủ, thống nhất; tăng quyền tự chủ và trách nhiệm xã hội của các cơ sở giáo dục, đào tạo... Xác định rõ trách nhiệm của các cơ quan quản lý nhà nước về giáo dục, đào tạo và trách nhiệm quản lý theo ngành, lãnh thổ của các bộ, ngành, địa phương. Phân định công tác quản lý nhà nước với quản trị của cơ sở giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh phân cấp, nâng cao trách nhiệm, tạo động lực và tính chủ động, sáng tạo của các cơ sở giáo dục, đào tạo” .
2. Chú trọng phát huy vai trò và tạo điều kiện hoạt động tối ưu đối với các tổ chức thực hiện chức năng tư vấn phát triển giáo dục.
Như đã trình bày, chính quyền thuộc địa rất coi trọng việc thành lập các cơ quan tư vấn và sử dụng hiệu quả đội ngũ chuyên gia am hiểu sâu sắc nền giáo dục bản xứ để xây dựng chính sách giáo dục, cũng như để tổ chức quản lý, điều hành hệ thống giáo dục thuộc địa. Đây là một vấn đề cần được nghiên cứu sâu, từ đó có sự chọn lọc, kế thừa phù hợp.
Hiện tại, Việt Nam đã có Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực (thành lập ngày 17/3/2017 theo Quyết định của Thủ tướng Chính phủ) là tổ chức tư vấn, thực hiện các nhiệm vụ và quyền hạn: (1) Tư vấn giúp Thủ tướng Chính phủ chỉ đạo đánh giá, tổng kết về sự nghiệp đổi mới trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và phát triển nhân lực; chỉ đạo hoàn thiện và triển khai các Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học, Luật Giáo dục nghề nghiệp…, các chiến lược phát triển giáo dục, giáo dục nghề nghiệp, chiến lược và quy hoạch phát triển nhân lực…; (2) Nghiên cứu, tư vấn giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong việc chỉ đạo, điều hành, quyết định các chính sách, biện pháp quan trọng phát triển giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp và phát triển nhân lực; (3) Nghiên cứu, tư vấn, góp ý kiến về việc xây dựng và triển khai các cơ chế, chính sách, đề án quan trọng thuộc lĩnh vực giáo dục, đào tạo, giáo dục nghề nghiệp và những vấn đề chuyên môn khác do Thủ tướng Chính phủ yêu cầu .
Việc thành lập và hoạt động của Hội đồng trong thời gian qua đã đáp ứng phần nào những yêu cầu cơ bản của sự nghiệp phát triển giáo dục - đào tạo. Tuy nhiên, thực tế cũng cho thấy “việc xây dựng, tổ chức thực hiện chiến lược, kế hoạch và chương trình phát triển giáo dục - đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu của xã hội”. Chính vì vậy, tăng cường hiệu quả hoạt động của tổ chức thực hiện chức năng tư vấn (với sự tham gia trực tiếp, thực chất của nhiều nhà chuyên môn trong nước và nước ngoài) là một trong những phương thức rất cần thiết để nền giáo dục Việt Nam nhanh chóng đạt được mục tiêu “bảo đảm các điều kiện nâng cao chất lượng; chuẩn hóa, hiện đại hóa, dân chủ hóa, xã hội hóa và hội nhập quốc tế hệ thống giáo dục và đào tạo; giữ vững định hướng xã hội chủ nghĩa và bản sắc dân tộc” .
3. Nâng cao năng lực quản lý của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức ngành giáo dục bằng những giải pháp mang tính đột phá.
Nhìn nhận một cách khách quan, có thể khẳng định chính quyền thuộc địa rất quan tâm đến việc đào tạo, nâng cao trình độ chuyên môn; đồng thời có chính sách tuyển dụng, bổ nhiệm đội ngũ “quan cai trị” và viên chức hành chính thông qua chế độ thi cử, sát hạch chặt chẽ; do vậy đã bố trí, sử dụng được đội ngũ quan chức, nhân viên tuy không thật đông về số lượng, nhưng thực sự tinh thông nghiệp vụ, đạt hiệu suất công việc cao.
Trong khi đó, theo đánh giá của Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII, “đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục trên một số mặt vẫn còn bất cập về chất lượng, số lượng” . Hội nghị Trung ương Đảng lần thứ 8 (khóa XI) còn nhận định chi tiết hơn: “Đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục bất cập về chất lượng, số lượng và cơ cấu; một bộ phận chưa theo kịp yêu cầu đổi mới và phát triển giáo dục, thiếu tâm huyết, thậm chí vi phạm đạo đức nghề nghiệp” . Thực tế đó đặt ra yêu cầu phải tiến hành các giải pháp mang tính đột phá trong đào tạo, bồi dưỡng, quy hoạch, bổ nhiệm cán bộ, công chức, viên chức; nhằm xây dựng một nền công vụ chuyên nghiệp, trách nhiệm, năng động, minh bạch, hiệu quả trong lĩnh vực giáo dục.
4. Nhấn mạnh vai trò quản lý nhà nước trong công cuộc đẩy mạnh xã hội hóa giáo dục
Xã hội hóa giáo dục – theo quan điểm của Đảng và Nhà nước Việt Nam – là nhằm bảo đảm quyền lợi, nghĩa vụ, trách nhiệm của toàn xã hội nhằm hướng tới sự phát triển chung của giáo dục. Xã hội hóa giáo dục phải đáp ứng lợi ích chung của cộng đồng. Giáo dục luôn là công việc của chính quyền, ngay cả khi tư nhân được Nhà nước ủy nhiệm làm giáo dục.
Thấu suốt quan điểm đó, để đạt được mục tiêu “dân chủ hóa, xã hội hóa giáo dục và đào tạo”, “xây dựng nền giáo dục mở, thực học, thực nghiệp, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt; có cơ cấu và phương thức giáo dục hợp lý, gắn với xây dựng xã hội học tập”  , bên cạnh việc “huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội; nâng cao hiệu quả đầu tư để phát triển giáo dục và đào tạo”, phải luôn nhấn mạnh vai trò quản lý nhà nước theo tinh thần Nghị quyết 29-NQ/TW: “Nhà nước giữ vai trò chủ đạo trong đầu tư phát triển giáo dục và đào tạo, ngân sách nhà nước chi cho giáo dục và đào tạo tối thiểu ở mức 20% tổng chi ngân sách”. 
Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XIII đã khẳng định quan điểm: “Nhà nước tiếp tục tăng đầu tư cho giáo dục và đào tạo gắn với đổi mới cơ chế chính sách để nâng cao hiệu quả đầu tư”, bên cạnh việc “hoàn thiện cơ chế, chính sách để đẩy mạnh xã hội hoá giáo dục và đào tạo đúng hướng, hiệu quả”. Với quan điểm đó, chắc chắn mục tiêu “phấn đấu đưa nước ta trở thành một quốc gia mạnh về giáo dục và đào tạo ở khu vực, bắt kịp với trình độ tiên tiến của thế giới, tham gia vào thị trường đào tạo nhân lực quốc tế”  sẽ sớm trở thành hiện thực; tô đậm những đặc trưng cơ bản của “nền giáo dục xã hội chủ nghĩa có tính nhân dân, dân tộc, khoa học, hiện đại”, khác biệt về chất so với nền giáo dục thời thuộc địa.

Tài liệu tham khảo chính
1.    Đảng Cộng sản Việt Nam (2021) - Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khoá XII tại Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tham khảo: https://tulieuvankien.dangcongsan.vn/ban-chap-hanh-trung-uong-dang/dai-hoi-dang/lan-thu-xiii/bao-cao-chinh-tri-cua-ban-chap-hanh-trung-uong-dang-khoa-xii-tai-dai-hoi-dai-bieu-toan-quoc-lan-thu-xiii-cua-3669.
2.    Đảng Cộng sản Việt Nam (2013) - Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (Khóa X) “Về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo…” (Nghị quyết 29-NQ/TW ngày 4/11/2013). https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Thuong-mai/Nghi-quyet-29-NQ-TW-nam-2013-doi-moi-can-ban-toan-dien-giao-duc-dao-tao-hoi-nhap-quoc-te-212441.aspx.
3.    Trần Thị Phương Hoa (2012) – “Tổ chức quản lý giáo dục ở Việt Nam trong bộ máy chính quyền thời Pháp thuộc”, Tạp chí Nghiên cứu Lịch sử, số 10-2012.
4.    Nguyễn Thụy Phương (2020) – Giáo dục Việt Nam dưới thời thuộc địa, Nxb. Hà Nội.
5.    Thủ tướng Chính phủ - Quyết định số 337/QĐ-TTg ngày 17/3/2017 của Thủ tướng Chính phủ về việc thành lập Hội đồng Quốc gia Giáo dục và Phát triển nhân lực nhiệm kỳ 2016-2021. https://thuvienphapluat.vn/van-ban/Bo-may-hanh-chinh/Quyet-dinh-337-QD-TTg-Hoi-dong-Quoc-gia-Giao-duc-va-Phat-trien-nhan-luc-2016-2021-343160.aspx. 
6.    Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I (2016) – Giáo dục Việt Nam thời kỳ thuộc địa qua tài liệu lưu trữ (1858-1945), Nxb. Thông tin và Truyền thông, Hà Nội.

Khoa Lưu trữ học - Quản trị văn phòng

CHIA SẺ:
Ngày cập nhật: 14/10/2021

Bài viết liên quan