
- Chạc gốm có phần chân đặc, có chân phụ

- Chạc gốm có lỗ

- Chạc gốm có phần chân hếch cong lên

- Chạc gốm có quai

- Chạc kéo dài và uốn cong tạo phần chân đế

Cũng như vấn đề về tên gọi, về chức năng của chạc gốm cũng có nhiều ý kiến khác. Có ý kiến cho rằng đó là vật giữ lửa, ông đầu rau, cốc uống nước, đồ đựng...
Đây là loại hình di vật có thể có nhiều chức năng, sử dụng trong đời sống hàng ngày hoặc mang tính chất tín ngưỡng, làm đồ tùy táng. Loại hình di vật này phát hiện trong địa tầng cư trú và trong các mộ táng.
Loại hình di vật này xuất hiện khá nhiều ở Trung Quốc tại các vùng trung và hạ lưu sông Trường Giang, các vùng Hoa Bắc, Tứ Xuyên, Quảng Đông, Hồ Bắc. Chạc gốm của Trung Quốc có hai loại: Hình trụ tròn thẳng đứng, dưới to trên nhỏ và hình trụ tròn nghiêng. Cả hai loại chạc gốm này đều có thân rỗng, chân chạc đặc, có một lỗ tròn xuyên qua thân, nhánh phụ không phát triển và cũng có loại chạc gốm có quai giống chạc gốm di chỉ Lũng Hòa.
Giống như các nhà khảo cổ học Việt Nam, cho đến nay, các nhà khảo cổ học Trung Quốc chưa có ý kiến thống nhất về tên gọi và chức năng của loại hình hiện vật này. Nếu như ở Việt Nam, chúng ta gọi tên dựa vào hình dáng là “chạc gốm”, “chân giò”…, ở Trung Quốc gọi chúng là “vật hình sừng”, “vật hình đầu lợn”, “vật hình mõm lợn”, “vật hình giày”… Về chức năng chúng ta cho rằng đó là các ông đầu rau, vật thờ cúng, cốc uống nước..., các nhà khảo cổ học Trung Quốc cho rằng đó là đồ dùng để kê nấu, chày gốm, chân kiềng…
Chạc gốm của Việt Nam và Trung Quốc vừa có nét tương đồng, vừa có nét dị biệt. GS. Hán Văn Khẩn cho rằng “chạc gốm hai khu vực này xuất hiện và phát triển độc lập với nhau nhưng có thể có mối quan hệ qua lại với nhau”.
TS. Bùi Thị Thu Phương






