
Sau khi Chiến tranh lạnh kết thúc, thế giới bước vào thập niên 90 của thế kỷ XX với những thay đổi sâu sắc và toàn diện. Trong đó, xu hướng hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển, ưu tiên cho phát triển kinh tế trở thành xu thế nổi trội. Bước vào thập niên cuối cùng của thế kỷ XX, tất cả các quốc gia đều đang ra sức điều chỉnh chiến lược phát triển và tập trung mọi nỗ lực vào ưu tiên phát triển kinh tế. Trong bối cảnh quốc tế mới, kinh tế trở thành tâm điểm trong quan hệ quốc tế, trở thành hình thức chủ yếu trong đọ sức giữa các cường quốc. Dưới tác động của cuộc cách mạng khoa học và công nghệ, khu vực hóa và toàn cầu hóa phát triển đan xen cả về chiều rộng và chiều sâu, làm cho tính tùy thuộc lẫn nhau giữa các quốc gia càng sâu sắc. Những xu thế đó vừa mở ra cơ hội cho các quốc gia tham gia mạnh hơn vào các quá trình kinh tế - xã hội trên phạm vi khu vực và thế giới, nhằm tận dụng những điều kiện thuận lợi và không gian cho phát triển, đồng thời đối phó với các thách thức do toàn cầu hóa, khu vực hóa đem lại. Bởi vậy, hội nhập khu vực và thế giới trở thành đòi hỏi khách quan với mọi quốc gia trên thế giới thời kỳ sau Chiến tranh lạnh.
Trên con đường đổi mới, Việt Nam nhanh chóng nắm bắt xu thế phát triển khách quan này. Đảng và Nhà nước Việt Nam đã sớm đề ra chính sách đối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa quan hệ quốc tế, là bạn, là đối tác tin cậy của các nước, chủ động hội nhập quốc tế để củng cố môi trường hòa bình, ổn định, tranh thủ hợp tác quốc tế, tận dụng nguồn lực bên ngoài bổ sung cho nội lực, phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Trong quá quá trình đổi mới, chủ trương hội nhập quốc tế là một chủ trương lớn trong đường lối và chính sách đối ngoại của Việt Nam. Các Đại hội VI (1986), Đại hội VII (1991) Đại hội VIII (1996), Đại hội IX (2001), Đại hội X (2006), Đại hội XI (2011), Đại hội XII (2016) của Đảng Cộng sản Việt Nam đã đánh dấu những bước phát triển quan trọng trong chủ trương chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, thể hiện tầm nhìn chiến lược toàn diện của Đảng. Trong hội nhập quốc tế, mục tiêu cơ bản được Đảng và Nhà nước Việt Nam xác định là nhằm củng cố môi trường hòa bình, tranh thủ tối đa các điều kiện quốc tế thuận lợi để phát triển đất nước nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ và bảo vệ vững chắc Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa; quảng bá hình ảnh Việt Nam, bảo tồn và phát huy bản sắc dân tộc; tăng cường sức mạnh tổng hợp quốc gia, nâng cao vị thế, uy tín quốc tế của đất nước; góp phần tích cực vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Trong quá trình hội nhập của Việt Nam, các khu vực đều có những đóng góp rất quan trọng.
Nam Bộ nằm trong tiểu vùng sông Mékong, 3 mặt tiếp giáp biển, ở vào vị trí trung tâm của khu vực Đông Nam Á, thuận lợi cho giao thương quốc tế, nhất là các nước ASEAN cả trên đất liền lẫn đường biển. Không gian khu vực Nam Bộ được chia thành 2 tiểu vùng Đông Nam Bộ (Thành phố Hồ Chí Minh, Bình Dương, Bình Phước, Tây Ninh, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu) và Tây Nam Bộ (Long An, Tiền Giang, Đồng Tháp, Vĩnh Long, Trà Vinh, thành phố Cần Thơ, Hậu Giang, Sóc Trăng, Bến Tre, Bạc Liêu, Cà Mau, An Giang và Kiên Giang). Trong đó, vùng Đông Nam Bộ là địa bàn của Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam phát triển mạnh với hạt nhân là tam giác Thành phố Hồ Chí Minh - Biên Hòa - Bà Rịa - Vũng Tàu đã đưa khu vực Đông Nam Bộ dẫn đầu cả nước về kinh tế (xét theo GDP bình quân đầu người), bỏ xa vùng đứng thứ hai là đồng bằng sông Hồng. Vùng Tây Nam Bộ (đồng bằng sông Cửu Long) được xem là vựa lúa lớn nhất cả nước chiếm hơn 50% diện tích và sản lượng, đóng góp đến 90% sản lượng gạo xuất khẩu. Hệ thống kênh rạch dày đặc của vùng Tây Nam Bộ rất thuận tiện cho giao thông đường thủy và cho nuôi trồng thủy sản. Tây Nam Bộ còn là khu vực tiếp giáp với biển của các nước Đông Nam Á (Singapore, Thái Lan, Malaysia, Philippines, Indonesia), nằm trong khu vực có nhiều đường giao thông hàng hải quốc tế quan trọng, nối Nam Á với Đông Á, châu Đại Dương và các quần đảo trong Thái Bình Dương.
Những tiềm năng nói trên cho thấy, Nam Bộ là một vùng đất có điều kiện to lớn để phát triển kinh tế, nguồn lực mạnh mẽ về địa lý, sinh thái và nhân văn không chỉ của cả nước mà còn cả khu vực. Từ vị trí địa lý thuận lợi cộng với sự ưu đãi của thiên nhiên, nên từ rất lâu Nam Bộ đã trở thành vùng kinh tế hàng hóa lớn của cả nước, hướng mạnh vào xuất khẩu và tiếp cận tham gia hội nhập khu vực và quốc tế từ rất sớm trong lịch sử. Xét tổng thể, vùng đất Nam Bộ có vị trí, vai trò đặc biệt trong tiến trình hội nhập của Việt Nam vào khu vực và thế giới thời kỳ sau năm 1975, đặc biệt là trong thời kỳ đổi mới. Nam Bộ là vùng hội tụ đủ các điều kiện và lợi thế để phát triển công nghiệp, dịch vụ, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa; đặc biệt phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp điện tử, tin học, công nghiệp dầu khí và sản phẩm hóa dầu; phát triển dịch vụ cao cấp, dịch vụ du lịch, dịch vụ viễn thông, tài chính, ngân hàng; nghiên cứu, ứng dụng và triển khai khoa học và công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực có trình độ cao, giao lưu văn hóa mạnh mẽ với khu vực và thế giới.
Quá trình hội nhập kinh tế của Nam Bộ với khu vực và thế giới theo các quy luật kinh tế thị trường với các chính sách đối ngoại đa dạng trên nền tảng đường lối ngoại độc lập, tự chủ, rộng mở, đa phương hóa, đa dạng hóa các quan hệ quốc tế của Việt Nam. Quá trình hội nhập này được đẩy mạnh từ năm 1986 đến nay, gắn liền với quá trình đổi mới của đất nước. Nội dung cốt lõi của hội nhập trong thời kỳ này là thực hiện tự do hóa, mở cửa thị trường, làm cho môi trường kinh doanh, đầu tư ở Nam Bộ ngày càng thông thoáng, qua đó thúc đẩy việc trao đổi mậu dịch, đầu tư, dịch vụ, sở hữu trí tuệ... giữa Nam Bộ với các nước trong khu vực và trên thế giới. Với việc tích cực, chủ động trong quá trình hội nhập kinh tế với khu vực và thế giới, Nam Bộ, mà đầu tàu là Thành phố Hồ Chí Minh, đã tăng nhanh chóng khối lượng buôn bán quốc tế của mình, thu hút một số lượng lớn FDI và ODA quan trọng vào Nam Bộ, đồng thời tiếp thu nhiều tiến bộ khoa học - kỹ thuật, công nghệ hiện đại và phương thức quản lý tiên tiến của thế giới, phục vụ thiết thực cho sự nghiệp phát triển kinh tế - xã hội, góp phần quan trọng vào sự phát triển chung của cả nước. Trên cơ sở đó, việc nghiên cứu vị thế và vai trò của vùng đất Nam Bộ trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của Việt Nam qua các thời kỳ lịch sử là điều cần thiết, mang ý nghĩa khoa học và thực tiễn hết sức to lớn.
Cuốn sách Nam Bộ - tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế tập trung phác họa lại toàn bộ tiến trình giao thoa và tiếp biến văn hóa của vùng đất Nam Bộ qua các thời kỳ lịch sử; qua đó làm rõ vị thế, vai trò của vùng đất Nam Bộ trong tiến trình hội nhập khu vực và thế giới của dân tộc Việt Nam. Trên cơ sở này, cuốn sách còn cung cấp những thông tin, luận giải khoa học, dự báo xu hướng phát triển của vùng đất Nam Bộ làm cơ sở khoa học cho các chính sách, biện pháp mới của Đảng và Nhà nước ta trong việc xác định vị thế và vai trò của vùng đất này trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam. Từ những kết quả nghiên cứu đạt được, cuốn sách cũng đưa ra những quan điểm, phương pháp luận để giải quyết vấn đề trên cơ sở đánh giá lại các chính sách và biện pháp kinh tế - xã hội, chính trị, dân tộc đã và đang áp dụng; tiếp tục nêu những kiến nghị cho chính sách, biện pháp mới góp phần thúc đẩy sự phát triển của vùng đất Nam Bộ trong tiến trình hội nhập khu vực và quốc tế của Việt Nam.
Để hoàn thành cuốn sách này, chúng tôi xin cảm ơn các cộng tác viên sau đã tham gia viết chuyên đề cộng tác: GS.TS. Trần Ngọc Thêm, PGS.TS. Nguyễn Minh Hòa, PGS.TS. Phạm Đức Mạnh, TS. Đào Minh Hồng, TS. Huỳnh Đức Thiện, TS. Cao Phương Thảo, TS. Nguyễn Thu Vân, TS. Lê Thế Tài, PGS.TS. Lưu Văn Quyết, TS. Nguyễn Thị Phương Hảo, TS. Nguyễn Thị Ánh Nguyệt, ThS. Trần Văn Phương, CN. Lê Thị Dung.
Tuy đã rất nỗ lực nhưng cuốn sách khó tránh khỏi những hạn chế và thiếu sót. Rất mong bạn đọc góp ý chân thành cho các tác giả để có thể bổ sung và thoàn thiện hơn trong lần xuất bản sau.
Chủ biên
GS.TS. VÕ VĂN SEN





