Sinh viên Phạm Quỳnh Như - "Từ tình yêu biển đảo Tổ quốc đến sứ mệnh của thanh niên Việt Nam"

Bài chia sẻ của sinh viên Phạm Quỳnh Như - Sinh viên năm 3, Bí thư Đoàn khoa Quan hệ Quốc tế sau hành trình công tác số 12 thăm cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1 năm 2024.
“Trường Sa ơi mai tàu rời bến
Ta lại về phố thị thân thương
Vòng tay ấm bao chuyện buồn vui
Biển vẫn yên lòng ta lay động.”
(Bài hát Bâng khuâng Trường Sa)
Đó là những cảm xúc cất lên trong bài hát mà Đoàn công tác số 12 hát gửi tặng các chiến sĩ Đảo Trường Sa vào đêm cuối cùng, trước khi tàu KN-290 bắt đầu hành trình trở về đất liền sau 7 ngày thực hiện chuyến hải trình đáng nhớ. Những lời hát ấy cũng chính là tâm trạng của tôi khi đó.

Phạm Quỳnh Như - Sinh viên năm 3, Bí thư Đoàn khoa Quan hệ Quốc tế là đại biểu chương trình công tác số 12
thăm cán bộ, chiến sĩ và nhân dân Quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1 năm 2024
Vinh dự được trở thành đại biểu tham gia Đoàn công tác số 12 đi thăm cán bộ, chiến sỹ và nhân dân quần đảo Trường Sa và Nhà giàn DK1 năm 2024, tôi đã tham gia đoàn công tác từ ngày 26/4 đến ngày 02/5; đi qua 6 điểm đảo của quần đảo Trường Sa bao gồm đảo Sinh Tồn, Cô Lin, Núi Le B, Tốc Tan C, Đá tây B, Trường Sa Lớn và Nhà giàn DK1. Tôi được góp sức vào chuyến hành trình với công tác tổ chức các hoạt động của hành trình và tham gia vào đội văn nghệ xung kích phục vụ tại các đảo xuyên suốt 7 ngày: đó là những trải nghiệm và cảm xúc không bao giờ quên với một sinh viên năm 3 và một cán bộ Đoàn như tôi.
Vẻ đẹp biển trời Trường Sa
Trong những ngày sinh hoạt và thực hiện nhiệm vụ được giao trên tàu, tôi đã có cơ hội chứng kiến và cảm nhận một cách chân thực, toàn vẹn vẻ đẹp của biển trời Tổ Quốc. Tôi lần đầu được chứng kiến và thật gần với những con sóng lớn xanh ngắt và dập dìu đưa chuyến tàu KN-290 ra khơi; được đứng giữa một vùng biển trời rộng lớn, hùng vĩ mà trước đây chỉ được đọc, được nghe trên sách vở.
Hiện nay, Việt Nam thực hiện chủ quyền và đóng giữ 21 đảo, gồm 10 đảo nổi (Trường Sa, Trường Sa Đông, An Bang, Sinh Tồn Đông, Phan Vinh, Song Tử Tây, Nam Yết, Sinh Tồn, Sơn Ca, Đá Tây); 11 đảo đá ngầm (Đá Nam, Đá Lớn, Đá Lát, Đá Đông, Đá Thị, Thuyền Chài, Cô Lin, Len Đao, Tiên Nữ, Núi Le, Tốc Tan) với 33 điểm đóng quân. Tôi được đi qua 6 điểm đảo, trong đó bao gồm 4 đảo đá chìm (Đảo Cô Lin, Núi Le B, Tốc Tan C, Đá Tây B) và 2 đảo nổi (Đảo Sinh Tồn, Đảo Trường Sa). Mỗi điểm đến đều đọng lại trong tôi những hình ảnh và cảm xúc khó phai.
Đảo Sinh Tồn và Trường Sa rợp những bóng cây xanh ngắt với những âu thuyền cho tàu cá ngư dân neo trú bão; chùa chiền, nhà dân, trường học đều được xây dựng kiên cố và khang trang. Còn những đảo đá chìm thì được xây dựng và cải tạo trên nền san hô xanh ngát với mực nước nông. Đặt chân lên đảo, tôi cảm nhận được các phòng ở, phòng ăn, phòng họp… đều được bố trí ngăn nắp, gọn gàng, chỉ vừa đủ để làm việc, không hề có không gian thừa. Những khu vực san hô bao bọc quanh đảo được cải tạo một cách hợp lý và không có dấu hiệu bị tàn phá: lúc thủy triều lên, bãi san hô ngập nước; lúc triều xuống, bãi san hô quanh đảo lộ diện vẻ đẹp vốn có trước sóng gió trùng khơi.
Từ khoảng cách vài hải lý nhìn vào, các đảo giống hệt như những “cột mốc” sừng sững giữa biển trời hùng vĩ. Tôi hiểu rằng, vẻ đẹp của những “cột mốc” ấy được kiến tạo nên bởi chính mồ hôi, xương máu và những hy sinh vô giá của quân và dân nơi tuyến đầu Tổ quốc.
Ảnh chụp tại Đảo Cô Lin
Ảnh chụp với chiến sĩ trên cột mốc Đảo Đá Tây B
Tấm lòng của những con người nơi đầu sóng ngọn gió
Trong quá trình tiếp xúc với cán bộ, chiến sỹ và nhân dân trên đảo, tôi và các đại biểu khác của Đoàn công tác số 12 đều vô số lần rưng rưng xúc động. Những con người nơi đây, với làn da rám nắng và đôi mắt sáng ngời, đều rất thân thiện và chào đón những gì thuộc về đất liền. Trong những lần tương tác, tôi đều cảm nhận được tấm lòng, sự trân quý và nỗi nhớ mong đất liền từ các cán bộ, chiến sỹ đang công tác và thực hiện nhiệm vụ tại đây. Chúng tôi trò chuyện, chia sẻ và đồng ca với nhau một cách gần gũi lạ thường dù chỉ là lần đầu gặp mặt. Các anh thân thiện, thích ca hát và kể cho chúng tôi nghe rất nhiều về cuộc sống trên đảo một cách cởi mở và tích cực. Và chúng tôi lắng nghe các anh như lắng nghe một người anh, một người em trai ruột thịt trong gia đình mình. Bởi lẽ, khi có cơ hội gặp nhau tại nơi đây, những khác biệt xa lạ đều trở nên lu mờ, điều duy nhất đọng lại trong chúng tôi đó chính là tình cảm của những người đồng bào, đồng chí, những người con Việt Nam với một mối quan tâm chung về chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc.
Ảnh chụp với chiến sĩ trên Đảo Cô Lin
Thanh âm của sóng: lời vỗ về của lịch sử
Khi xuồng trung chuyển đưa chúng tôi từ tàu kiểm ngư KN-290 cập vào đảo đá chìm Cô Lin, tôi đã nhìn thấy Đảo Gạc Ma cận kề trong tầm mắt, chỉ cách Đảo Cô Lin vài hải lý, rõ ràng và chân thực. Những cảm xúc khi tôi từng được đọc, được học và được nghe kể về trận chiến Gạc Ma năm 1988 như ùa về.
“Ngày 14/3/1988, khi thấy tàu HQ-604 bị tàu địch bắn cháy chìm dần, thiếu tá Vũ Huy Lễ, thuyền trưởng tàu HQ-505 ra lệnh cho tàu nhổ neo ủi bãi. Thấy tàu ta áp sát Cô Lin, tàu 531 của Trung Quốc quay sang bắn phá dữ dội. Khi trườn lên bãi Cô Lin được 2/3 thân thì tàu bốc cháy nhưng cả con tàu HQ-505 đã trụ vững được. Sáu mươi tư chiến sỹ của ta đã hy sinh.”
Cứ như thế, tàu HQ-505 trở thành “cột mốc sống” bảo vệ chủ quyền được “cắm” trên bãi đá Cô Lin mà ngày nay tôi được đặt chân tới.
Chiều tối hôm ấy, rời bãi đá Cô Lin nhưng Đoàn công tác số 12 vẫn neo tàu gần đảo rất lâu để thực hiện nghi thức tưởng niệm liệt sĩ hy sinh tại trận Gạc Ma. Cầm nhành hoa trên tay, trước khi thả chúng xuống biển để thực hiện nghi thức tưởng nhớ, tôi đã vô cùng xúc động khi chứng kiến một đại biểu là cựu chiến binh tàu HQ-505 đưa tay vẫy chào theo hướng Đảo Gạc Ma và Cô Lin rất lâu trước khi rời đi.
Tôi hiểu rằng, đó chỉ là một trong vô số những câu chuyện lịch sử nơi tuyến đầu Tổ quốc. Thế hệ cha anh đã đánh đổi máu xương của mình để mang lại chủ quyền và những con sóng yên bình ngày hôm nay.
Ảnh chụp trên Đảo Tốc Tan C
Kết lại hành trình
Là một sinh viên, một cán bộ Đoàn của trường ĐH KHXH&NV, tôi tự hào và vô cùng vinh dự vì đã có thể góp một phần tâm sức của mình vào thắng lợi nhiệm vụ của chuyến công tác. Sau chuyến đi, tôi suy ngẫm và tin tưởng rằng, chỉ cần mỗi con người của thế hệ hôm nay đừng bao giờ lãng quên những gì đã diễn biến trong lịch sử chiến đấu và bảo vệ chủ quyền hải đảo của thế hệ cha anh đi trước, mỗi chúng ta, với những đặc thù về nghề nghiệp, năng lực, ước mơ, cá tính,... sẽ tự nhận thức được mình cần làm gì tiếp theo để góp phần vào công cuộc bảo vệ chủ quyền thiêng liêng của Tổ Quốc.
Vào khoảnh khắc chứng kiến tàu xa dần tại nhà giàn DK1, tôi nhìn về hướng đảo xa chỉ còn thấy lá cờ Tổ Quốc giữa biển khơi bạc màu vì nắng gió, đầy thiêng liêng và xúc động. Giờ đây, tôi cảm thấy may mắn vì đã mang về những kỷ niệm đẹp đẽ và những bài học quý giá về lịch sử, về lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý chí kiên cường của quân dân nơi hải đảo. Từ tình yêu biển đảo Tổ quốc và lịch sử hào hùng của dân tộc, chúng tôi - những thanh niên Việt Nam giàu ý chí, vững bản sắc - luôn ý thức được sứ mệnh của mình trên hành trình bảo vệ, dựng xây đất nước thịnh vượng, hòa bình.
Ảnh chụp cùng cán bộ, chiến sĩ tại Nhà giàn DK1/17
Bài viết liên quan

28 ĐỘI HÌNH RA QUÂN CHIẾN DỊCH MÙA HÈ XANH - LẦN THỨ 33 NĂM 2026 - TRƯỜNG ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCMTên bài viết




