TĐKH: Chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số ở Việt Nam: Nghiên cứu về cộng đồng Chăm Islam

Sáng ngày 25/11/2024, tại văn phòng Khoa Văn hóa học (A204), Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM, TS. Rie Nakamura đã có buổi chia sẻ kết quả nghiên cứu về ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc Chăm Islam tại tỉnh An Giang, Việt Nam. Nghiên cứu này được thực hiện dưới sự hỗ trợ của Khoa Văn hóa học và nằm trong khuôn khổ dự án nghiên cứu lớn do Đại học Kyoto, Nhật Bản chủ trì.
Nghiên cứu của TS. Rie Nakamura tập trung vào chủ đề ‘Giữ gìn tiếng mẹ đẻ và tôn giáo: Trường hợp người Chăm Hồi giáo ở Việt Nam’ được phân tích qua hai chủ điểm chính gồm: Yếu tố giáo dục Hồi giáo, và tạo dựng môi trường Hồi giáo.

TS. Rie Nakamura (thứ tư từ trái sang) chụp hình lưu niệm cùng với các nhà nghiên cứu, NCS và giảng viên tham dự. Ảnh: Việt Thành
Theo sử liệu, cộng đồng người Chăm sinh sống ở khu vực miền Trung thực hành Hindu giáo và Phật giáo. Hồi giáo được giới thiệu đến khu vực ven biển miền Trung, và cộng đồng người Chăm, thuộc Việt Nam ngày nay, từ khoảng sau thế kỷ 10. Cùng với các biến động lịch sử khách quan, tiêu biểu như các cuộc xung đột với Đại Việt, một phần cộng đồng dân cư người Chăm theo Hồi giáo di cư xuống khu vực thuộc đồng bằng sông Cửu Long.
Do vậy, theo thống kê dân số năm 2019, cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo tại Việt Nam được ghi nhận sinh sống ở các tỉnh như Bình Định, Phú Yên, Ninh Thuận, Bình Thuận, Đồng Nai, TP. Hồ Chí Minh, Bình Dương, Tây Ninh, An Giang. Vì vậy, hầu hết người Chăm khu vực đồng bằng sông Cửu Long hiện nay đều nói rằng tổ tiên của họ là người Chăm đến từ vùng Panduranga, ương ứng khu vực hiện nay là Ninh Thuận và Bình Thuận.
Sự mở rộng địa bàn sinh sống trong quá khứ, đã kéo theo các hoạt động giao lưu kinh tế và văn hóa của các cộng đồng dân Chăm cư sinh sống dọc biên giới hai quốc gia Việt Nam và Campuchia. Do vậy, Campuchia có thể xem là quốc gia Đông Nam Á lục địa có người Chăm sinh sống nhiều nhất bên ngoài lãnh thổ Việt Nam.
Xét về phong tục truyền thống cư dân Champa nói chung, họ theo truyền thống mẫu hệ, hoặc theo dòng họ bên mẹ. Mặc dù vậy, truyền thống này không ghi nhận trong cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo, đây là điều khác biệt so với các cộng đồng dân tộc Chăm thực hành tôn giáo khác.
Từ sau khi thống nhất đất nước năm 1975 đến trước thời kỳ Đổi Mới 1986, Đảng và Nhà nước đã có sự quan tâm đến bảo tồn và phát huy ngôn ngữ dân tộc thiểu số nói chung, tuy nhiên, thực tế khách quan đã đặt ra nhiều khó khăn cho chính sách ngôn ngữ dân tộc thiểu số giai đoạn này.
Bắt đầu từ thập niên 1990, các chương trình nghiên cứu, cũng như chính sách ngôn ngữ đối với dân tộc thiểu số được đẩy mạnh. Trong đó có công tác bảo tồn và phát huy ngôn ngữ của cộng đồng dân tộc Chăm nói chung. Tuy nhiên, khó khăn lớn nhất đối với phát huy ngôn ngữ cộng đồng dân tộc Chăm chính là sự không đồng nhất trong hệ thống chữ viết.

TS. Sakaya (Trương Văn Món, trái) tặng sách cho TS. Rie Nakamura về ngôn ngữ Chăm Islam. Ảnh: Việt Thành
Tiêu biểu như, hệ chữ Rumi Cam EFEO (dùng hệ thống ký tự Latin) để Phiên tự hoặc Phiên âm từ hệ thống chữ Akhar Thrah. Rumi Cam Lần đầu tiên được biết đến vào năm 1889, và nhanh chóng được sử dụng rộng rãi trong nghiên cứu, học tập, giao tiếp. Hiện nay hệ thống Rumi Cam EFEO đã được sử dụng chính thức trong việc biên soạn các tài liệu tiếng Chăm ở Âu Châu và khu vực Đông Nam Á. Đây cũng là một công cụ quan trọng giúp cho việc học Akhar Thrah (chữ Chăm truyền thống) được thuận lợi và dễ dàng, góp phần giữ gìn và bảo tồn di sản ngôn ngữ và chữ viết Chăm.
Điểm đặc biệt trong giai đoạn hiện nay chính là việc người Chăm vận dụng hệ chữ Latin tiếng Việt để ghi và phiên âm tiếng Chăm. Đây có thể xem là hiện tượng thay đổi trong việc sử dụng hệ thống chữ viết, mặc dù họ vẫn dùng tiếng nói của dân tộc Chăm.
Trong cộng đồng người Chăm theo Hồi giáo, ghi nhận có hai hệ thống chữ viết chính gồm Akhar Thrah và Jawi. Akhar Thrah là chữ viết phổ biến nhất và được sử dụng như chữ viết chính thức của vương quốc Champa từ thế kỷ 17, tuy nhiên nó dường như không còn được sử dụng trong đời sống hiện nay, có thể do tính chất khó học của nó. Thay vào đó, Jawi là hệ thống chữ cái Arab (Arabic) đã được cộng đồng Chăm theo Hồi giáo sử dụng, đặc biệt là giảng dạy trong trường học, và cầu nguyện kinh Qur’an hàng ngày.
Bên cạnh đó, Akhar Thrah lại bị khước từ bởi một số cộng đồng dân cư Chăm Hồi giáo, bởi lý do giáo lý kinh thánh Qur’an không viết bằng hệ chữ này, đó không được dùng để viết các văn bản tôn giáo của họ. Thêm vào đó, đối với người Chăm theo Hồi giáo, tiêu chuẩn để trở thành một người Hồi giáo trọn vẹn là cầu nguyện bằng tiếng Arab và biết chữ để có thể đọc hiểu kinh Qur’an. Để đáp ứng các mục tiêu đó, phải có trường dạy chữ Arab/ hoặc Jawi, và dạy bằng tiếng Chăm.
Đáp ứng yêu cầu nay, hầu hết ở khắp khu vực đồng bằng sông Cửu long có người Chăm theo Hồi giáo sinh sống, họ đều hình thành hoặc tổ chức các trường/ hoặc lớp dạy chữ, hầu hết là các ngôi trường giảng dạy tiếng Arabic/ chữ Jawi. Các ngôi trường này hầu hết là trường nội trú, môi trường giảng dạy yên tĩnh, có nội quy chặt chẽ và được các học viên tuân thủ nghiêm túc. Các giảng viên giảng dạy tại các ngôi trường này đều gởi đi đào tạo học ở nước ngoài, có thể đọc và tụng kinh Qur’an thành thạo bằng tiếng Arabic. Cùng với đó, tiếng Chăm là ngôn ngữ chính dùng trong giảng dạy, và giao tiếp hàng ngày giữa các giảng viên và học viên. Điều này tạo môi trường thuận lợi để thực hành và phát huy ngôn ngữ tiếng Chăm.
Điều thú vị trong nghiên cứu này chính là không gian Hồi giáo được tạo bởi chính người Chăm theo Hồi giáo ở nơi họ sinh sống. Họ sống gần gũi với nhau, không xa các đền thờ Hồi giáo - Masjid, trong bán kính khoảng 220m, khoảng cách xa nhất để có thể nghe được lời Azan và đến cầu nguyện tại các ngôi đền.
Điều đó đồng thời hỗ trợ cho cộng đồng người Chăm thực hành triệt để quy định của Hồi giáo trong đời sống hàng ngày như sử dụng thực phẩm Halal, không tiêu thụ thịt lợn, không tiêu thụ các thức uống có cồn. Đó chính là một trong những tiêu chí giúp cho các tín đồ Chăm Hồi giáo giữ được sự trong sạch.
Chủ điểm trình bày trên cũng nêu lên các vấn đề khó khăn trong triển khai chương trình giảng dạy ngôn ngữ cho cộng đồng Chăm nói chung, có thể liệt kê như sau: 1/ Cách phát âm khác nhau giữa cộng đồng Chăm sinh sống ở khu vực Ninh Thuận và An Giang, do vậy khó triển khai một chương trình giáo dục ngôn ngữ duy nhất cho cộng đồng người Chăm nói chung, và người Chăm theo Hồi giáo nói riêng; 2/ Mục đích học và giảng dạy ngôn ngữ khác nhau giữa các cộng đồng Chăm theo tôn giáo khác nhau; tiêu biểu như, cộng đồng Chăm theo Hồi giáo học chữ Jawi, xem nó là phương tiện để phục vụ mục đích tôn giáo của họ nói chung, đồng thời là tiền đề để con em các gia đình này tìm được các chương trình đi học nước ngoài.
Từ những phát hiện trên, TS. Rie Nakamura đã nhận thấy rằng có thể môi trường sinh sống quần tụ, gắn bó với nhau trong một địa bàn, đây là điều kiện lý tưởng cho việc hình thành một không gian bảo vệ và phát triển ngôn ngữ truyền thống của người Chăm theo Hồi giáo.

TS. Rie Nakamura (phải) tặng quà lưu niệm cho đại diện K.VHH - TS. Phan Anh Tú (Trưởng khoa). Ảnh: Việt Thành
Nghiên cứu của TS. Nakamura không chỉ góp phần làm sáng tỏ lịch sử và thực trạng chính sách ngôn ngữ tại Việt Nam, vai trò của cộng đồng và xã hội trong việc bảo vệ di sản ngôn ngữ dân tộc thiểu số. Câu chuyện về tiếng Chăm của cộng đồng Chăm Islam là một minh chứng rõ nét cho những thách thức mà cho việc bảo tồn và giảng dạy các ngôn ngữ thiểu số phải đối mặt trong thời đại toàn cầu hóa. Đồng thời, nó cũng cho thấy sự cần thiết của những giải pháp toàn diện và lâu dài để bảo tồn sự đa dạng ngôn ngữ và văn hóa – một di sản quý báu của nhân loại.
Tin, ảnh: Việt Thành, Tú Anh






