Cơ sở dẫn liệu là gì?

MỤC LỤC:
Trong kiểm toán, thuật ngữ cơ sở dẫn liệu (assertion) được nhắc đến rất nhiều. Đối với kiểm toán viên, cơ sở dẫn liệu chính là cơ sở để thiết kế mục tiêu kiểm toán.

1. Khái niệm Cơ sở dẫn liệu
Cơ sở dẫn liệu là các khẳng định của Ban Giám đốc đơn vị được kiểm toán một cách trực tiếp hoặc dưới hình thức khác về các khoản mục và thông tin trình bày trong báo cáo tài chính và được kiểm toán viên sử dụng để xem xét các loại sai sót có thể xảy ra.
2. Các loại cơ sở dẫn liệu
Để làm rõ hơn về Khái niệm Cơ sở dẫn liệu, chúng ta cùng xem xét chi tiết các loại cơ sở dẫn liệu được sử dụng nhé!
2.1. Cơ sở dẫn liệu đối với số dư tài khoản (Account Balance)
Các cơ sở dẫn liệu này tập trung vào các thông tin phản ánh trên Bảng cân đối kế toán, tập trung vào số dư cuối kì, bao gồm:
-
Existence - tính tồn tại: Ban giám đốc cam kết Tài sản, nguồn vốn chủ sở hữu và các khoản nợ phải trả được phản ánh trên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp thực sự tồn tại vào thời điểm lập báo cáo. Ví dụ, khoản mục hàng tồn kho trên báo cáo tài chính vào ngày 31/12/2024 là 600 triệu, thì Ban giám đốc cam kết là tại ngày đó, trong kho của Doanh nghiệp thực sự có lượng hàng tồn kho có giá trị tương ứng với 600 triệu đồng.
-
Completeness - tính đầy đủ: Ban giám đốc cam kết đã phản ánh toàn bộ các tài sản cũng như các khoản nợ, nguồn vốn của doanh nghiệp lên Báo cáo tài chính.
-
Right and Obligation - Quyền và nghĩa vụ: Ban giám đốc đảm bảo doanh nghiệp có quyền sở hữu hay kiểm soát liên quan đến các Tài sản cũng như có nghĩa vụ thanh toán đối với khoản nợ của doanh nghiệp.
-
Valuation and allocation - tính giá và phân bổ: Ban giám đốc khẳng định rằng các khoản mục đã được phản ánh vào báo cáo tài chính với giá trị chính xác, đồng thời các thay đổi trong việc định giá và phân bổ đã ghi nhận đúng cũng như đã được thuyết minh một cách đầy đủ.
2.2. Cơ sở dẫn liệu đối với các giao dịch và sự kiện phát sinh trong kỳ (Transactions and Events)
Các cơ sở dẫn liệu này tập trung vào các giao dịch và sự kiện, thường được sử dụng đối với các thông tin trên Báo cáo kết quả hoạt động kinh doanh và Báo cáo lưu chuyển tiền tệ, cụ thể:
-
Occurrence - tính có thật: Ban giám đốc khẳng định các giao dịch và sự kiện kinh tế ghi nhận đã thực sự diễn ra trong kỳ
-
Completeness - tính đầy đủ: Các giao dịch và sự kiện kinh tế đã xảy ra cần được phản ánh đầy đủ lên Báo cáo tài chính của doanh nghiệp
-
Accuracy - tính chính xác: Các giao dịch, sự kiện xảy ra cần được ghi nhận với đúng giá trị thực tế. Ví dụ, một khoản bán hàng là 400 triệu cần được ghi nhận với giá trị chính xác là 400 triệu.
-
Cut-off - tính đúng kì: Các giao dịch cần được phản ánh đúng kì Kế toán. Giao dịch diễn ra vào ngày 30/12/20X9 sẽ được ghi nhận cho kỳ kế toán kết thúc ngày 31/12/20X9, trong kì giao dịch xảy ra vào 2 ngày sau sẽ được ghi nhận cho kỳ kế toán năm kế tiếp.
-
Classification - tính phân loại: Các giao dịch và sự kiện cần được ghi nhận đúng tài khoản kế toán theo quy định.
2.3. Cơ sở dẫn liệu đối với việc trình bày và công bố (Presentation and Disclosure)
Các cơ sở dẫn liệu này thường được áp dụng cho các thông tin trên thuyết minh Báo cáo tài chính.
-
Occurrence, Right and Obligation - tính có thật, quyền và nghĩa vụ: Các sự kiện giao dịch và các vấn đề khác được thuyết minh có liên quan đến doanh nghiệp
-
Classification and Understandability - Phân loại và dễ hiểu: Các thông tin được trình bày và công bố cần đảm bảo tính hợp lý, rõ ràng và dễ hiểu
-
Accuracy and Valuation - Tính chính xác: Các thông tin cần được trình bày và phản ánh với đúng giá trị thực tế
-
Completeness - tính đầy đủ: Các thuyết minh cần thiết cần được trình bày đầy đủ trên Báo cáo tài chính.
3. Áp dụng cơ sở dẫn liệu trong kiểm toán
Cơ sở dẫn liệu là căn cứ để kiểm toán viên thiết kế các mục tiêu kiểm toán chung và mục tiêu kiểm toán đặc thù bằng việc thực hiện các thủ tục tương ứng. Ví dụ phổ biến nhất là để xác minh tính đầy đủ, kiểm toán viên sẽ đi từ các chứng từ và đối chiếu với sổ sách, trong khi để xác minh tính có thật, kiểm toán viên sẽ đi từ sổ sách và đối chiếu với các chứng từ có liên quan.
Đối với khoản mục tài sản và doanh thu, thông thường doanh nghiệp có xu hướng “làm đẹp” hơn BCTC nên thường được phản ánh cao hơn so với giá trị thực tế. Do đó một số cơ sở dẫn liệu thường bị vi phạm là tính có thật và tính chính xác.
Ngược lại, khoản mục liên quan đến nợ phải trả và chi phí có khả năng nhiều bị phản ánh thấp hơn giá trị đúng, dẫn tới một số cơ sở dẫn liệu bị vi phạm như tính đầy đủ và tính chính xác.
Căn cứ vào bản chất của từng khoản mục, kiểm toán viên sẽ cần thiết kế thủ tục kiểm toán chi tiết phù hợp để đảm bảo thu thập được các bằng chứng đầy đủ và hợp lý.
Trên đây là một số tìm hiểu cơ bản về cơ sở dẫn liệu. Nhớ đơn giản thì cơ sở dẫn liệu chính là cam kết của nhà quản lý về các thông tin trình bày trên Báo cáo tài chính. Các thông tin cần trình bày đầy đủ, chính xác, trình bày đúng kỳ hay chỉ trình bày những thông tin có thực đối với doanh nghiệp. Cơ sở dẫn liệu chính là cơ sở để thiết kế mục tiêu kiểm toán.
Nguồn: BISC
Bài viết liên quan







