

Bài viết của Ths. Hà Thị Sương đã in trên tạp chí Di sản Văn hóa số 2 (47) năm 2014
Việt Nam là một quốc gia nằm ở phía đông bán đảo Đông Dương, thuộc khu vực Đông Nam Á, phía bắc giáp Trung Quốc, phía tây giáp Lào và Campuchia, phía tây nam giáp vịnh Thái Lan, phía đông và phía nam giáp biển Đông với hơn 3.000km bờ biển và có hơn 4.000 hòn đảo, bãi đá ngầm lớn nhỏ, gần và xa bờ. Theo một số tài liệu thành văn và những chứng cứ khảo cổ học thì từ rất sớm cư dân Việt cổ đã gắn liền đời sống sinh hoạt với biển. Biển, đảo là bộ phận cấu thành phạm vi chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, cùng với đất liền tạo ra môi trường sinh tồn và phát triển đời đời của dân tộc Việt Nam.
Do vị trí địa lí nằm án ngữ trên con đường hàng hải nối liền giữa Ấn Độ Dương và Thái Bình Dương, nên biển Việt Nam đã đóng vai trò quan trọng trong mối quan hệ kinh tế, thương mại và văn hóa với các nước trên thế giới. Đồng thời, so với các nước các nước trong khu vực Đông Nam Á, Việt Nam có truyền thống sản xuất tơ lụa và gốm sứ lâu đời, phát triển nhất. Nước ta lại là đất nước có nhiều lâm, hải sản, hương liệu quý giá. Những nguồn hàng này là những mặt hàng quan trọng trên con đường thương mại đã kích thích các lái buôn nước ngoài tìm đến thị trường Việt Nam, mở ra viễn cảnh giao lưu kinh tế - văn hóa đầy thú vị.
Sau khoảng thời gian dài đơn thuần chỉ là điểm trung chuyển trên các tuyến giao thương, khoảng từ thế kỷ 15 là thời kỳ bùng nổ của giao thương quốc tế qua vùng biển Việt Nam, những cảng thị sơ khai dần dần trở thành một điểm sinh hoạt kinh tế - văn hóa của cư dân trong nước. Ngoài những dòng ghi chép tản mạn, có phần ít ỏi của các nguồn sử liệu thành văn, thì những điều tra, khảo sát, phát hiện, khai quật và nghiên cứu các con tàu đắm ở trên vùng biển Việt Nam có thể giúp ta chứng minh được trong lịch sử, Việt Nam tham gia một cách tích cực vào con đường thương mại trên biển, trong đó mặt hàng xuất khẩu quan trọng nhất của chúng ta là đồ gốm. So sánh đối chiếu đồ gốm sứ trên các con tàu đắm cổ ở Biển Đông với những phát hiện khảo cổ học về đồ gốm sứ trên đất liền Việt Nam, giúp chúng ta phác thảo rõ hơn về con đường hàng hải quốc tế và mối giao lưu buôn bán trên biển Việt Nam. Tuy nhiên, hiện nay sau hơn 20 kể từ khi khai quật con tàu đắm đầu tiên – tàu cổ Hòn Cau (Vũng Tàu), ngành khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam vẫn còn đang trong quá trình hình thành trong khi ở khu vực Đông Nam Á hầu hết các nước có biển đảo đều đã phát triển ngành khảo cổ học dưới nước mạnh mẽ. Vì vậy, qua bài viết này chúng tôi muốn chia sẽ kinh nghiệm xây dựng đội ngũ nghiên cứu, xây dựng chính sách pháp lý, thiết kế và xây dựng hệ thống trưng bày đối với ngành khảo cổ học dưới nước ở các nước trong khu vực với hy vọng những kinh nghiệm này có thể được vận dụng cho việc hoạch định chính sách phát triển, xây dựng và phát triển ngành khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam.
- Khảo cổ học dưới nước Việt Nam chặng đường hơn 20 năm
Khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam thực sự bắt đầu kể từ cuộc khai quật tàu cổ Hòn Cau thuộc tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, năm 1990. Cho đến nay, tại vùng biển Việt Nam đã phát hiện và khai quật 6 con tàu cổ: Hòn Cau, Hòn Dầm, Cù Lao Chàm, Cà Mau, Bình Thuận và Bình Châu. Ở vùng sông thì đã hợp tác với viện Khảo cổ học hàng hải Mỹ tiến hành khảo sát bãi cọc trên sông Bạch Đằng…. Ngoài ra, ở những điểm mới phát hiện di tích khảo cổ học dưới nước thì các cơ quan, tổ chức cũng tiến hành các cuộc trục vớt quy mô nhỏ. Những hoạt động trên đã thu hút được sự quan tâm đặc biệt của giới khảo cổ và nhân dân. Dưới đây, tôi xin điểm qua một số cuộc khảo sát và khai quật tiêu biểu.
1.1. Khai quật tàu cổ Hòn Cau (Vũng Tàu – Côn Đảo)
“Tàu cổ Hòn Cau nằm sâu dưới 40 mét nước, và chìm sâu dưới lớp cát từ 0.6m đến 1m, cách hòn đảo Hòn Cau khoảng 15km. Tàu được khai quật năm 1990 - 1991, thu được 63,856 hiện vật gồm có: 28,556 đồ gốm, 34,710 đồ sứ, 70 đồ đá, 448 đồ đồng, 18 đồ gỗ, 25 hiện vật chất liệu khác và 39 mẫu vật. Tất cả số hiện vật này đã được xử lý bảo quản, kiểm kê, phân loại, đăng ký, chụp ảnh, làm lý lịch một cách rất công phu” {10:293}.
Niên đại này căn cứ vào một thỏi mực có ghi 2 chữ Canh Ngọ tìm thấy trên tàu. Canh Ngọ triều Khang Hy duy nhất chỉ năm 1690. Ngoài ra, các vật dụng trên một số có chữ Hán, là những tiêu chí rất quý để định niên đại và chủ nhân chiếc tàu như 25 đồng tiền Vạn Lịch thông bảo (1573 – 1619), 1 đồng Thuận Trị thông bảo (1644 - 1671), và 4 đồng Khang Hy thông bảo (1662 – 1722) {10:293}.
Tàu xuất phát từ một thương cảng nào đó ở miền Nam Trung Quốc để hành trình đến một quốc gia châu Âu xa xôi. Nhiều hàng hóa kiểu dáng phương Tây như súng thần công, đồng hồ cát hiện diện trên tàu khiến người ta liên tưởng đến vị thuyền trưởng cùng thủy thủ đoàn người Âu. Nhưng so với phần lớn vật dụng sinh hoạt mang theo, dùng vào việc nấu nướng, bếp núc, như cối giã tiêu bằng đá, cối xay bột, mắm cá, quả hồng khô, cùng các bếp lò nhỏ nhắn với nồi nấu cơm bằng đất hoặc đồ dùng thiết thân khác như mực tàu, con dấu chữ triện, que ráy lỗ tai, khuy áo tròn, hộp đồng, tiền đồng... các nhà nghiên cứu đi tới khẳng định: đây là tàu buôn Trung Hoa.
Một phần gỗ mạn bé tìm thấy có dấu vết cháy còn than cho phép người ta đoán tàu chìm do hỏa hoạn bất ngờ. Không tìm thấy hài cốt của người nào trong lớp cát phủ trên boong và buồng tàu, hoặc quanh di tích đã khoanh vùng, nên có khả năng tàu cháy chậm, các thủy thủ may mắn được cứu thoát vào bờ, bỏ lại sau lưng hàng hóa chìm dưới nước.
“Đồ gốm tập trung vào hai nhóm chính, đồ gốm tráng men, có các món: đĩa, bát, hũ. Đồ gốm không tráng men phổ biến là: ấm, vò, hũ, nồi, âu, đĩa đèn, bếp lò, con kê, đế, gạch”. Đồ gốm sứ trong con tàu đều được làm tại Trung Quốc, cụ thể là tại lò Cảnh Đức Trấn. Riêng sưu tập đồ sứ có: sứ trắng, sứ men trắng, sứ hoa lam, sứ nguyên vẹn (Chu Viên), tượng Quan Âm, tượng Kim Đồng Ngọc Nữ, Tô Vũ chăn dê, tượng thỏ - rồng - cua. Gây nhiều cảm xúc cho người xem và có giá trị nghệ thuật hơn cả là "loạt tượng về các nhân vật trong giới võ lâm với mấy chục tác phẩm mỗi người một động tác và (thể hiện) tâm tư tình cảm rất khác nhau" - Theo các nhà nghiên cứu có thể đó là loạt tượng về các sư tổ Thiếu Lâm, các vị La Hán nhập thế, các võ sư xuất thế, hoặc thể hiện của một "thông điệp" đọc được nếu để toàn bộ tượng theo một thứ tự nào đấy? Đồ đồng, ngoài hai khẩu súng thần công và ba khẩu súng hiệu là vũ khí được sản xuất tại châu Âu” {10:294}. .
Những sưu tập tiêu biểu, với nhiều độc bản, lựa chọn đưa về giữ tại các bảo tàng. Số còn lại gồm 18 mặt hàng với số lượng 28.000 món được quyết định đưa ra thị trường quốc tế. Đây là lần đầu tiên Việt Nam bán đấu giá cổ vật ở nước ngoài thu tổng cộng 6.700.000 USD {4:3}.
1.2. Khai quật tàu cổ Hòn Dầm (Kiên Giang)
Con tàu thứ hai phát hiện chưa nhiều hiện vật gốm sứ cổ, nhưng chưa thực sự được tiến hành khai quật theo phương pháp khảo cổ học là con tàu đắm trong vùng biển Phú Quốc. Kết quả cho thấy con tàu bị đắm ở độ sâu hơn 10m. Số hiện vật thu hồi trong dân và khai quật được lên tới con số gần 16000, tập trung về tỉnh quản lý. Trong số 15.973 hiện vật có tới 15,853 hiện vật gốm, 10 hiện vật đồng, 1 đồ sứ, 7 cục thiếc. Qua kiểm kê, phân loại đồ gốm chở trong con tàu phần lớn thuộc nhóm hiện vật gốm men màu, chì, đồng, ngà. Một số đồng tiền hình tròn ở giữa có lỗ vuông, một mặt đúc nổi chữ Hán, một số đồng đọc được các dòng chữ: Hoàng Tống thông bảo (tiền đời Tống), Tường Phù thông bảo (tiền đời Tống), Chí Nguyên thông bảo (thiền đời Nguyễn) và muộn nhất có đồng Vĩnh Lạc thông bảo đời vua Minh Thành Tổ (1403 – 1424), đều là tiền Trung Quốc. Ghi chép cho hay tàu có bề ngang 7m, dài gần 30m, phần có nhiều khoang hầm ở giữa tàu, mỗi khoang rộng 1,8m, gỗ dưới đáy tàu còn chắc, gốm vỡ và san hô phân bố rải rác trên mặt biển. Đồ gốm phía trên phần lớn bị hàu đóng kết lại thành khối .
“Sưu tập hàng hóa thu thập được trong con tàu hầu hết thuộc loại gốm gia dụng gồm: bát, đĩa, tô, chén, tráng men nhẹ lửa. Chỉ thấy loại men đơn sắc, men ngọc có màu xanhh tàn thuộc, màu da lươn, màu nâu, lông thỏ, vàng, trắng chưa phát hiện loại men hai, ba màu, phổ biến là men chảy, trình độ ngưng men thấp, các hiện vật đều hở xương đất ở phần trôn, men đọng lại thành giọt lớn. Xương đất màu hồng xám là đặc trưng của gốm Sawankhlok (Thái Lan) niên đại khoảng thế kỷ XV{5:14}. Một điều đặc biệt lẫn trong số đồ gốm men đặc sắc đó xuất hiện một chiếc bát men trắng vẽ lam đề tài ngựa đứng dưới cây dương liễu ở thành ngoài của bát và trong lòng bát vẽ chim đậu trên cành hoa trong một vòng tròn. Kết hợp với sự có mặt của những đồng tiền Vĩnh Lạc thông bảo ta có thể định một khung niên đại hẹp hơn cho tàu chin ở vùng biển Phú Quốc vào thế kỷ XV” {10:295}.
1.3. Khai quật tàu cổ Cù Lao Chàm
Năm 1997, được sự cho phép của Bộ Văn hóa Thông tin, các đơn vị chức năng gồm Viện Bảo tàng lịch sử Việt Nam, Viện Khảo cổ học, Trung tâm khảo cổ học trường Đại học Oxford (Anh) và công ty Visal mới tiến hành khảo sát, xác định vị trí bị đắm chính xác của con tàu cổ.
Sau 3 đợt khảo sát đã xác định được tàu nằm ở vùng biển Cù Lao Chàm (Hội An, Quảng Nam), tọa độ 16016’08” vĩ Bắc đến 108027’- 108032’ kinh Đông, ở độ sâu 70m so với mực nước biển.
Hiện trạng của tàu đắm cổ Cù Lao Chàm
“Trước khi khai quật, tàu đắm cổ bị vùi dưới đáy biển. Do bị ngâm lâu dười biển, bị hà phá hủy cộng thêm sự cào quét của lưới ngư dân cho nên bề bặt tàu đã bị phá hủy nhiều. Sau khi hút hết bùn cát và lấy dần dị vật, xác con tàu lộ ra và nằm theo hướng Đông – Tây và nghiêm từ phía Bắc xuống phía Nam. Tàu được làm hoàn toàn bằng gỗ. Một vài mẫu gỗ được viện Lâm Nghiệp Việt Nam phân tích đó là loại gỗ Tếch chuyên được dùng để đóng tàu” {1:549}.
“Tàu dài 29,4m, nơi rộng nhất là 7,2m. lòng tàu được chia thành 19 khoang được phân chia bởi các thanh dầm gỗ được kéo rất xít sao, chặt chẽ” {1:549}. Cấu tạo khoang như vậy với mục đích không để nước từ khoang này có thể chảy qua được khoang khác.
Về hướng phía Tây, khi khai quật ở đây người ta đã phát hiện ra được nhiều đồ dùng của thủy thủ đoàn như chảo, ấm, nồi bằng đồng. bởi vậy những người tham gia khai quật đã đoán định đây là phần đuôi của con tàu, còn hướng mũi tàu là quay về hướng Đông.
Di vật trên tàu
Không tính số mảnh vỡ nhỏ, hàng ngàn hiện vật trước lúc đoàn khai quật chính thức tham gia khai quật đã được ngư dân vùng này bằng nhiều cách vớt lên. “Chỉ tính riêng số hiện vật không bị vỡ hoặc bị vỡ ít, cuộc khai quật này đã thu về được trên 240.000 hiện vật bao gồm đồ gốm men, đồ sành, đồ gỗ, đồ đá và di cốt của người” {1:549}. Toàn bộ số đồ gốm Việt Nam ở trên con tàu khi được đem so sánh với những đồ gốm phát hiện ở trên đất liền thì nhìn chung đa số đều thấy tương tự như các loại hình đã tìm thấy ở các lò gốm cổ Hải Dương mà cụ thể hơn là ở khu lò gốm Chu Đậu – Mỹ Xá, xã Thái Tân, huyện Nam Thanh. Khu lò mà rất lớn và sản xuất nhiều đồ gốm xuất khẩu đã tìm thấy ở một số nước Đông Nam Á, Nhật Bản và cả một số nước Phương Tây nữa. ngoài ra, có thể đồ gốm ở các lò lân cận khu vực Hải Dương. Và mới đây khi khai quật Hoàng Thành Thăng Long thì các nhà nghiên cứu cũng đã tìm thấy các loại hình hiện vật tương tự đây và họ cũng đã chứng minh một số hiện vật trong con tàu đắm này có nguồn gốc từ lò gốm ở trong Hoàng Thành Thăng Long.
Ngoài hàng hóa còn có một số đồ đồng của Việt Nam, một ít đồ gốm là của Thái Lan, Trung Quốc và Chămpa là đồ sinh hoạt hằng ngày của các thủy thủ trên con tàu này.
“Xét về mặt cấu trúc, tàu cổ Cù Lao Chàm có những nét tương đồng với các con tàu cổ Trung Quốc hoặc Đông Nam Á từ thế kỷ XV đến thế kỷ XVIII. Căn cứ vào xét nghiệm chất liệu gỗ thì loại gỗ Tếch được dùng để đóng tàu cổ Cù Lao Chàm từ khoảng thế kỷ XVIII trở về trước, chỉ có ở khu vực Ấn Độ, Thái Lan, Myanmar và Lào” {1:550}.
Xét các khu vực này, ta thấy khả năng con tàu này được đóng ở Thái Lan hơn cả vì những lý do:
Theo thư tịch cổ, thế kỷ XVI – XVI, Thái Lan có quan hệ buôn bán, phát triển thương mại rất mạnh. Đặc điểm nhân chủng di cốt người trên tàu đặc điểm di cốt của người thiếu nữ theo Nguyễn Lân Cường là gần gũi với người Thái. “Phần lớn đồ dùng và đồ cất trữ của thủy thủ trên tàu (các loại chum, vò trang men đen…) đều được sản xuất ở Thái Lan”{1:551}. Hơn nữa, việc đóng thân tàu cho thấy các đặc tính chắc chắn không phải là của Trung Quốc đóng. Gỗ ở tàu cho thấy chúng được ghép nối và được cố định chắc chắn bởi những chiếc chốt cá bằng gỗ theo chiểu đứng. Việc đóng tàu của khu vực Đông Nam Á theo truyền thống có sử dụng ván thân tàu chốt vào khung, vì vậy tránh được hiện tượng dùng đinh. “Nghiên cứu gần đây của P.Y.Manguin đã xác định được loại lai tạo thuyền mành của Nam Trung Quốc, đặc biệt là châu Á và cách sử dụng hai kỹ thuật đóng đinh và cài chốt. Loại tàu này vẫn còn duy trỳ những vách ngăn được hàn kín, một đặc trưng riêng biệt của thiết kế tàu Trung Quốc. Chiếc tàu đắm ở Hội An rất phù hợp với nhóm tàu này”{6:563}.
Sự hiện diện của các vật đựng vôi có liên quan đến việc ăn trầu, một tập quán của người Đông Nam Á, gợi ý cho các nhà nghiên cứu và chúng ta ý nghĩ tàu được điều kiển bởi một đội thủy thủ của khu vực Đông Nam Á. “Nhân tố có ý nghĩa trong việc xác lập điều kiện chính xác của loại tàu này là sự hiện diện của các loại vò sành được tráng men cỡ lớn, trục vớt được từ boong phía trên của con tàu. Vị trí của nó gợi ý rằng chúng để cho đội thủy thủ dùng, chứ không phải là để đựng hàng. Chúng được sản xuất từ Thái Lan, và phần lớn có liên quan đến các lò gốm Ban Rachan ở tỉnh Singburi, miền trung Thái Lan, nơi phục vụ các con tàu hoạt động bên ngoài kinh đô Ayuthaya. Một số khác có thể là từ vùng Si Satchanalai của miền trung phía bắc Thái Lan. Những vò đựng như vậy là nét phổ biến của khối hàng gốm trục vớt từ các địa điểm tàu đắm trong vùng vịnh Thái Lan. Bằng chứng đưa ra thêm nữa là số lượng nhỏ các vò nhỏ từ các lò ở Si Satchanalai của miền trung phía bắc Thái Lan, và chiếc ấm đất nung, có lẽ từ tỉnh Singburi, tiếp tục củng cố sự diễn giải rằng chiếc tàu này và đội thủy thủ người là người Thái, và hoạt động bên ngoài cảng Xiêm, rất có khả năng là từ kinh đô Aytthaya” {1:551}. Thêm vào đó, ở Thái Lan, khu vực Chantaburi là nơi đóng tàu thuyền buôn từ thế kỷ XV đến trước thế kỷ XVIII.
Niên đại: vì không có tài liệu ghi chép niên đại tuyệt đối của con tàu cho nên phải dùng phương pháp so sánh tổng hợp. Kết quả qua việc phân tích gỗ đóng tàu, tiền đồng, hoa văn trên đồ gốm và các tài liệu thành văn cho thấy con tàu được đắm vào khoảng thế kỷ XV.
Hành trình của con tàu: Bằng chứng khảo cổ học ghi chép được kết hợp với bằng chứng gốm cho phép các nhà nghiên cứu khi tìm hiểu về con tàu đắm này đã phục dựng lại một cốt chuyện mang tính chất giả thuyết cho nguồn gốc và hành trình của con tàu: “Rất có khả năng nó là tàu do người Xiêm chế tạo, hoạt động trên con đường từ kinh đô Aytthaya – Đông Kinh, bắt đầu hành trình về nhà sau khi đã dành những tháng mùa xuân và mùa hè ở khu vực châu thổ sông Hồng, có lẽ là tại đây một cảng gần sông, nơi nó đã mua và chất lô hàng lớn với các đồ gốm tráng men chất lượng cao. {1:551}.
“Theo giám định thực vật, các loại hoa quả ở Việt Nam trên con tàu được thu hoạch vào mùa hè, đầu mùa thu. Kết hợp với sử cũ có thể dự đoán, con tàu này đến thương cảng quốc tế Vân Đồn vào mùa xuân, sau một thời gian buôn bán đã khởi hành trở về vào đầu mùa thu, đi ngang qua ngoài khơi Cù Lao Chàm, gặp thời tiết xấu và chở quá nặng nên bị đăm{1:551}.
1.4. Khai quật tàu cổ Cà Mau
Tàu đắm ở vùng biển Cà Mau được ngư dân phát hiện vào năm 1998. “Thực hiện chỉ thị của Thủ tướng Chính phủ, theo công văn số 737/CPLGVX ngày 06 – 07 – 1998, Bộ Văn hóa - Thông tin, phối hợp với các Bộ ngành liên quan, UBND tỉnh Cà Mau và Liên hợp trục vớt cứu hộ đã tổ chức khai quật khảo cổ tại vùng biển Cà Mau” {2:309}.
“Cuộc khai quật khảo cổ học dưới nước tàu cổ Cà Mau là cuộc khai quật hoàn toàn do kinh phí trong nước, với đội ngũ chuyên gia khảo cổ học và kỹ thuật Việt Nam đảm nhiệm thực hiện trong năm 1998 – 1999” {3:12}.
Số liệu thống kê được về hàng hóa trong con tàu Cà Mau lên tới 130 nghìn hiện vật ở trạng thái bảo quản khá tốt. Đây là chưa kể đến hàng trăm giỏ mảnh vỡ đã trục vớt, hiện đang được lưu giữ tại Bảo tàng Cà Mau. Ngoài ra, hàng nghìn hiện vật hiện vật khác đã bị khai thác trái phép, buôn bán lưu lạc trên nhiều tỉnh thành trong nước.
Trên cơ sở hàng hóa như vậy, chúng tôi cho rằng tàu cổ Cà Mau là một tàu buôn đồ gốm sứ Trung Quốc, tương tự như con tàu Hòn Cau (1960) đã khai quật ở Vũng Tàu trước đây. Tàu được đóng bằng gỗ thuộc loại tàu buồm, trước khi chìm đã bị cháy rất nặng.
Tàu cổ Cà Mau là một tàu buôn chở hàng gốm sứ Trung Quốc, cho nên, sưu tập hiện vật phong phú nhất ở đây là gốm sứ. Nhưng hiện vật bằng gỗ, đá và kim loại chiếm số lượng ít ỏi, có lẽ chỉ là đồ dùng của thủy thủ đoàn.
Qua dấu tích còn lại của con tàu, chúng ta chỉ còn thấy vết tích của một con tàu gỗ có cấu trúc ván gỗ ngăn các khoang, không cho nước thông khoang này với khoang kia. Tuy nhiên, vì phần vỏ tàu đã vỡ nát nên rất khó khăn trong việc phục hồi hình dáng của tàu. Mẫu gỗ phân tích cho biết loại gỗ đóng tàu là kim giao đế nạc. Nhưng đây không phải là thông tin xác định chắc chắn về tàu buôn Trung Quốc. Xét về góc độ hàng hóa trên tàu chỉ thấy thuần nhất đồ gốm sứ Trung Quốc. Nghiên cứu các hiện vật tìm được, đặc biệt các đồ gốm sứ có minh văn, cơ sở xác định trực tiếp niên đại hàng hóa trên tàu.
Ngoài ra còn có một số loại hình ít ỏi như trâm cài tóc, con dấu đá, “bùa hộ mệnh”, nghiên mực đá, chậu thau, ống nhỏ bằng đồng là những căn cứ gợi nên chủ nhân của con tàu là người Trung Quốc. Trong tàu còn chứa nhiều đồ sứ có loại hình và hoa văn trang trí mang đặc điểm chấu Âu như loại đĩa sứ hoa lam vẽ phong cảnh thành lũy, nhân vật châu Âu với cả bộ 5 cỡ khác nhau, loại bình đựng sữa, loại ấm rượu mang kiểu dáng ấm bằng bạc của châu Âu, chiếc đèn đồng có cán dài. Hơn nữa, tính chất hàng hóa trên tàu rõ ràng có liên quan đến việc đặt hàng ký kiểu của người châu Âu, cho nên có nhiều khả năng tàu cô Cà Mau cũng là tàu buôn Trung Quốc cung cấp hàng cho châu Âu đang trên đường tới một hội chợ nào đó ở Java (Indonesia) tương tự như tàu cổ Hòn Cau.
Theo sách “Đông Tây Dương khảo” do Trương Nhiếp soạn vào năm 1617 dưới đời vua Vạn Lịch nhà Minh cho biết con đường giao thương giữa Trung Quốc và Đông Nam Á phải theo hai tuyến: Một là Đông Dương Châm Lộ đi qua Mollucca, Borneo, quần đảo Philippin và Đài Loan; hai là Tây Dương Châm Lộ đi qua duyên hải Ấn Độ, quần đảo Mã lai, Sumatra và Java.
Như vậy, có nhiều khả năng tàu cổ Cà Mau là con tàu nằm trên lộ trình Tây Dương Châm lộ. Vấn đề nguồn gốc của tàu cổ Cà Mau là Trung Quốc hay công ty khác của châu Âu như thế vẫn còn là giả thiết công tác, rất cần nhiều tài liệu liên quan đến con tàu phải được kiểm tra, làm rõ thêm trong tương lai{3:19}.
Nguồn gốc hàng hóa trên tàu
Đồ gốm sứ: sản xuất ở khu vực lò Cảnh Đức Trấn tỉnh Giang Tây, khu vực Đức Hóa tỉnh Phúc Kiến. Ngoài ra, còn các mẫu tượng sứ khác đều tìm thấy trong các sưu tập gốm sứ thời Thanh, những đồ gốm sản xuất ở khu vực lò Quảng Châu tỉnh Quảng Đông.
Những loại hàng hóa khác
Những đồ vật bằng chất liệu da hay đồng chiếm số lượng ít và dường như đó chỉ là những đồ sứ sử dụng của thủy thủ đoàn. Những chậu đồng thau, khóa đồng, hộp đồng mang đặc điểm đồ dùng của người Trung Quốc. Tấm đánh có hình mặt hổ phù là một vật mang giá trị như một thứ “bùa hộ mệnh”, nghiên mực, con dấu bằng đá cũng như những vật dụng theo phong tục Trung Quốc. Riêng chiếc đèn đồng có thể là một vật dụng ngoại quốc{3:54}.
Tóm lại, từ các phân tích nguồn gốc con tàu và nguồn gốc hàng hóa trên đây có thể giả thiết rằng tàu cổ Cà Mau là tàu chở hàng gốm sứ của người Trung Quốc sản xuất theo yêu cầu của châu Âu đang trên đường vận chuyển đi bán.
1.5. Khai quật tàu cổ Bình Thuận
Được Thủ tướng Chính phủ cho phép, UBND tỉnh Bình Thuận hợp tác với xí nghiệp liên hiệp trục vớt cứu hộ, khai quật con tàu. Quá trình khai quật có sự tham gia của hai nhà khảo cổ học của Việt Nam và của Anh, đó là Tiến sĩ Nguyễn Đình Chiến và Michael Flexer. Cuộc trục vớt cổ vật được bắt đầu vào tháng 9 năm 2001, và sau khi những cổ vật được đưa lên khỏi mặt nước, các chuyện gia không mấy khó khăn để xác định: nó được sản xuất từ giữa thế kỷ 16 đến giữa thế kỷ 17. Nhà khảo cổ học người Anh, Michael Flexer, sau đó viết trong tài liệu Maritime Explorations cho biết: con tàu chìm thuộc sở hữu cuả một thương gia người Trung Quốc, tên là SinHo, bị chìm vào năm 1608 khi mang lụa và gốm sứ giao thương với Hà Lan. Tác giả cũng xác định số cổ vật được trục vớt thuộc lò gốm Chương Châu, tỉnh Phúc kiến, Trung Quốc, với họa tiết trang trí phổ thông là rồng, phượng {15}.
Tại tàu cổ Bình Thuận, người ta đã tìm thấy những đĩa sứ hoa lam có hoa văn chim phượng, hoa lá, miệng loe xiên, thành cong gãy, đế thấp, lõm, dính cát, giống với hiện vật tìm thấy tại ngôi mộ của người Mường ở Hòa Bình thế kỷ 16-17. (Đế dính cát là một trong những đặc điểm dễ nhận thấy nhất của sản phẩm gốm sứ lò Chương Châu, Phúc Kiến thời kỳ này).
Cũng tại con tàu này, các nhà khảo cổ đã tìm thấy nhiều đồ sứ vẽ nhiều màu trên men và sứ hoa lam - đặc biệt là bát hoa lam vẽ trang trí hoa sen và vịt, tương đồng với hiện vật được khai quật tại những di chỉ của người Mạ cổ ở Lâm Đồng. Những tiêu bản này đang được trưng bày tại Bảo tàng Lâm Đồng và được công bố trong cuốn “Những sưu tập gốm sứ ở Lâm Đồng” {16}.
Ngoài 5 con tàu đắm đã được tổ chức khảo sát, khai quật và nghiên cứu trên thì gần đây, cũng có nhiều con tàu đắm được phát hiện và được trục vớt như:
1.6. Một số phát hiện mới về khảo cổ học dưới nước những năm gần đây.
Đầu năm 2004, bảo tàng Kiên Giang, một số chuyên gia ở Bảo tàng Lịch sử Việt Nam và TS. Michael Flecker đã phối hợp để tìm hiểu di tích tàu cổ ở vùng biển Kiên Giang. Kết quả đã xác định được dấu tích một tàu cổ dài 25m, nằm sâu dưới biển 35m, tọa độ 9046’564” vĩ độ Bắc, 103033’625” kinh độ Đông. Hàng hóa trên tàu là ngà voi và đồ gốm Thái Lan thế kỷ 15-16 (Nguyễn Đình Chiến – Phạm Quốc Quân 2008:13). Ở một di chỉ khác nằm cách di chỉ tàu đắm Hòn Dầm 3km về phía Đông. Ở đây, gần vách núi, các thợ lặn cũng tìm thấy đồ gốm rải rác có nguồn gốc từ gốm Thái Lan và gốm Trung Quốc thế kỷ 14. Tuy nhiên không tìm thấy gỗ tàu.
Ở vùng biển Vũng Tàu – Côn Đảo, gần đây các ngư dân lại mới tìm thấy dấu vết về một tàu cổ thứ hai. Số hàng hóa trong tàu này vớt lên hiện lưu giữ tại Bảo tàng Bà Rịa – Vũng Tàu là đồ gốm sứ hoa lam và sứ trắng Trung Quốc, thế kỷ 18 (Nguyễn Đình Chiến – Phạm Quốc Quân 2008:13).
Vùng biển Cà Mau trong từ năm 2000 – 2002, ngư dân ở thị trấn Sông Đốc đã trục vớt được 4.944 đồ gốm từ một con tàu cổ. Bên cạnh một số ít đồ gốm Thái Lan, còn phần lớn là đồ gốm Việt Nam. Gồm các bát, chén hoa lam đều có niên đại thế kỷ 14. Hiện vật trong tàu này có nhiều điểm tương đồng với hiện vật được phát hiện ở Turiang (Malaysia).
Ngoài ra, Bảo tàng Cà Mau còn tiếp nhận từ các ngư dân được nhiều hiện vật gốm đặc trưng của lò Cảnh Trấn, thời Nguyên, thế kỷ 14.
Đầu năm 2008, Sở Văn hóa, Thể Thao và Du lịch Kiên Giang phối hợp với Bảo tàng Lịch sử Việt Nam tổ chức khảo sát 2 địa điểm tàu cổ ở vùng biển Phú Quốc. Kết quả cho thấy dấu tích đồ gốm sứ Thái Lan và Trung Quốc thế kỷ 15.
Khai quật tàu cổ Bình Châu
Được phát hiện tháng 9 năm 2012 bởi ngư dân thôn Châu Thuận Biển, xã Bình Châu, huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi. Dấu tích tàu cổ cách bờ biển Bình Châu khoảng 200m và nằm sâu 3,5-4m so với mực nước biển. Đây là tàu đắm cổ thứ 6 trong vùng biển Vệt Nam.
Khai quật công trình này Công ty TNHH Đoàn Ánh Dương đã xây dựng phương án thi công mới làm bờ kè lá sen bao trùm vị trí tàu cổ với diện tích khoảng 300 m2. Đây là cách làm tạo điều kiện thuận lợi cho công tác khai quật khảo cổ học. Cuộc khai quật khảo cổ học tàu đắm cổ Bình Châu được diễn ra từ ngày 04/6 đến ngày 23/6/2013, Theo thống kê, công trường đã thu được 91 thùng hiện vật nguyên và 177 thùng hiện vật vỡ, tổng số là 268 thùng {4:8}.
Sau khi đã hút cạn bùn cát, xác tàu đã lộ rõ với chiều dài từ đuôi tàu cho đến phần mũi tàu còn lại là 20,5 m, chiều ngang rộng nhất của tàu nằm phía sau khoảng giữa tàu là 5,6m, thân tàu được chia làm 13 khoang với 12 vách ngăn. Con tàu đã bị cháy trước khi chìm, đặc biệt thể hiện với các dấu tích từ khoang 5 đến khoang 7.
Trong tàu tìm được một số đồ kim loại như: Gương đồng, quả cân đồng, đinh thuyền bằng sắt dùng để liên kết các thanh ván cấu trúc của tàu và các loại tiền đồng. Đây là loại tiền mặt tròn lỗ vuông, phát hiện ở các khoang 5, 6 và 7, nơi có dấu tích bị cháy. Qua phân tích sơ bộ đã phát hiện được 19 loại tiền thời Đường-Tống, trong đó muộn nhất là thế kỷ 13{4:9}.
Hàng hóa trong tàu là đồ gốm sứ bao gồm các chủng loại dòng gốm men nâu, men ngọc, đồ sứ hoa lam và sứ men trắng xanh. Thuộc dòng gốm men nâu có các loại hình: hũ, lọ và chậu. Hũ có văn hoa chanh, hoa dây, song nước, hoa văn hình học, khắc chìm để mộc trên nền men nâu với nhiều kích thước khác nhau. Nhiều loại hũ và lọ có 4 tai nổi trên vai, men nâu phủ 2/3 chiều cao. Chậu gốm men nâu có loại miệng tròn thành cao; có loại thấp với 3 cỡ lồng vào nhau. Trong lòng các chậu này phủ men nâu màu da lươn. Ngoài ra có một số lọ chum kích thước lớn trên vai có in nổi mác hiệu của lò sản xuất như: Đức Chính Nhuận, Ngô Nhậm Hiệu. Qua xem xét các loại hình thuộc dòng đồ gốm men ngọc, đồ sứ hoa lam, đồ sứ men trắng xanh, chúng tôi cho rằng đây là các loại đồ gốm sứ thuộc thế kỷ 13. Đặc biệt, các đồng tiền tìm đươc, qua nghiên cứu cho thấy các đồng tiền muộn nhất cũng là thế kỷ 13.
Hiện trạng con tàu tuy cách ngày nay gần 700 năm nhưng còn khá nguyên vẹn có cấu trúc độc đáo hiếm thấy, là một hiện vật cổ quan trọng rất có giá trị đóng góp vào việc nghiên cứu tàu cổ trên thế giới {4:10}.
- Bài học phát triển ngành khảo cổ học dưới nước từ các nước trong khu vực
Ở khu vực Đông Nam Á hầu hết các nước có biển đảo đều đã phát triển ngành khảo cổ học dưới nước mạnh mẽ. Thái Lan có Trung tâm Khảo cổ học dưới nước với hệ thống các cơ quan liên quan như UNESCO Thái Lan, Bảo tàng Hàng hải Thái Lan, Hải quân Thái Lan, các trường Đại học Thái Lan. Kinh phí xây dựng ngành ban đầu cho cả phương tiện và đào tạo là 900.000USD. Cơ quan khảo cổ học dưới nước của Indonesia có hàng chục chi nhánh với hơn 100 cán bộ ở các vùng ven biển toàn quốc.
2.1. Bài học về phát triển nhân lực nghiên cứu
Bài học từ Thái Lan
Từ năm 1976, Thái Lan đã tiến hành dự án khảo cổ học dưới nước, đến nay đã phát hiện và khai quật được 25 di tích trong vịnh Thái Lan. Đồ gốm từ 19 trong số 35 di tích này đã được cứu vớt (rescued) và bảo tồn (conserved) bởi các nhà nghiên cứu. Hơn 10.000 mảnh gốm, dựa vào loại hình và chất liệu có thể xác định được chúng có nguồn gốc từ Trung Quốc, Việt Nam và Thái Lan có niên đại từ thế kỷ XIII đến thế kỷ XVIII {7:5}.
Ngoài thành tựu về khảo sát và khai quật tàu cổ, vẽ bản đồ di chỉ khảo cổ học dưới nước Vịnh Thái Lan thì thành tựu lớn nhất mà ngành Khảo cổ dưới nước ở nước này đạt được chính là việc đào tạo cán bộ, chuyên viên làm việc trong lĩnh vực khảo cổ học dưới nước.
Thái Lan cũng đã có rất nhiều khóa đào tạo cho không chỉ các sinh viên Khảo cổ mà cả các tình nguyện viên, ngư dân, cảnh sát,... đi vào thực địa và nghiên cứu. Vì thế mà đội ngũ chuyên gia Khảo cổ học dưới nước của Thái Lan ngày càng được nâng cao cả về số lượng và chất lượng.
Chương trình cụ thể được thực hiện: Khi mới phát triển ngành, các chuyên gia khảo cổ học dưới nước Thái Lan được đào tạo bởi các chương trình hợp tác đào tạo với nước ngoài như: Từ năm 1975 đến năm 1979, đã có một chương trình hợp tác đào tạo nghiên cứu giữa phía Thái Lan và chính phủ Đan Mạch, một nguồn nhân lực đáng kể với những chuyên gia về nhiều lĩnh vực đã được đào tạo từ chương trình này. Đến năm 2003 đã có 6 lớp đào tạo với tổng số 56 sinh viên của dự án SEAMEO (Dự án Khảo cổ học và Mỹ thuật). Từ những chương trình hợp tác đào tạo như thế mà hiện tại Thái Lan đã có một số lượng rất đáng kể các nhân viên kỹ thuật chuyên gia trong nhiều lĩnh vực của Khảo cổ học, kể cả Khảo cổ học dưới nước.
Từ nguồn lực đó, Thái Lan đã thực hiện nhiều biện pháp để đào tạo bổ sung cán bộ trẻ cho ngành như:
Mỗi nghỉ hè, sinh viên quan tâm lặn và muốn khám phá kiến thức mới có giá trị khảo cổ học dưới nước tập trung lại với nhau để tham gia một dự án học lặn, khám phá trường khảo cổ học dưới nước với các nhà khảo cổ tài năng và những người làm việc tại Phòng Khảo cổ học dưới nước, Mỹ thuật, tỉnh Chantaburi, Thái Lan. Đây cũng chính là chương trình hè của sinh viên chuyên ngành khảo cổ học ở Thái Lan {14}. Với sự giúp đỡ của tổ chức Khảo cổ học dưới nước, các nỗ lực mạnh mẽ của các sinh viên và giáo sư tư vấn cho dự án, Nhiều dự án đào tạo tình nguyện cán bộ khảo cổ học dưới nước Thái Lan được tiến hành. Dự án được tài trợ dựa trên một phần kinh phí của các tổ chức tư nhân khu vực, và hệ thống trang thiết bị từ bộ phận khảo cổ học dưới nước. Đào tạo bởi các nhà khảo cổ học dưới nước chuyên nghiệp và các chuyên gia ở Cục Mỹ thuật. Mục đích của dự án đào tạo tình nguyện viên cho đến nay là mở rộng sự hiểu biết của học sinh tò mò với kinh nghiệm mới mà là liên quan đến khảo cổ học, tạo một thế hệ mới của các chuyên gia tài năng cho lĩnh vực này {14}.
Họ tiến hành cho sinh viên thực nghiệm ở các di tích gần bờ, không quá sâu (khoảng 10 mét) sâu đó là tốt cho sinh viên mới làm quen với những người thợ lặn không có nhiều giờ lặn, nhưng nó là đủ sâu để phát triển của họ lặn kỹ năng như khai quật di tích tàu đắm Hin Bush, Rating, Thailand. Tham gia học trong các dự án này cho phép sinh viên thực hành các kỹ thuật và phương pháp nghiên cứu thực địa được sử dụng trong hàng hải. Các em được học lý thuyết chung và phương pháp khảo cổ học dưới nước, có thể phác thảo toàn cảnh để xác định vị trí các di tích, kiểm tra việc khai quật dưới nước, kiểm tra các kỹ thuật ghi âm, ghi hình dưới biển, và trải nghiệm những khó khăn khi tiết xúc biển. Mặc dù đây là một đợt học tập về khảo cổ học dưới nước ngắn tại một di tích đã được khai quật, nhưng các sinh viên học hỏi được rất nhiều quan điểm về cách xử lý các công trình dưới nước với nhiều yếu tố liên quan.
Ngoài những kỹ năng quý giá mà sinh viên và những tình nguyện viên được học trong khóa học, khóa học này còn có khả năng truyền cảm hứng cho những người có niềm đam mê thật sự với ngành, mà hơn nữa có thể nâng cao hiệu suất và lợi ích của họ sau này. Đó chính là cách họ đào tạo những chuyên gia cho ngành khảo cổ học dưới nước. Và đây cũng là cách mà ngành khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam nói riêng và các nước Đông Nam Á khác nói chung cần phải học hỏi.
Ở Philippin
Bảo tàng quốc gia Philippin cũng đã phối hợp với các tổ chức quốc tế tổ chức nhiều khóa học quan trọng nhằm nâng cao chuyên môn khảo cổ học dưới nước cho cán bộ Philippin và khu vực như: khóa học bảo tồn di sản khảo cổ học dưới nước được tiến hành năm 2009 với sự hợp tác của Trung tâm nghiên cứu quốc tế về bảo tồn và phục chế di sản văn hóa (ICCROM), Trung tâm khảo cổ học và nghệ thuật Mỹ (Seameo – Spafa), cùng với hơn 22 chuyên gia khảo cổ học dưới nước đến từ Brunei Darussalam, Campuchia, Indonesia, Lào, Malaysia, Myanmar, Philippines, Singapore, Thái Lan, Timor - Leste và Việt Nam. Ở khóa học, các học viên được trao đổi, thảo luận, học lý thuyết, thực hành về việc lựa chọn cách thức bảo tồn, cách thức phục chế đối với từng loại hình di tích và từng hiện vật. Thiết lập một mạng lưới đồng nghiệp để có thể hỗ trợ nhau về sau trong các nghiên cứu ở mỗi nước. Những khóa học này là việc làm thiết thực mà Philippin đã làm được cho ngành khảo cổ học dưới nước ở khu vực {15}.
Nhìn lại ở Việt Nam, sau khi khai quật tàu cổ Bình Châu, đã có cả một hội thảo khoa học lớn được dự kiếm tổ chức để tìm ra cách xử lý vỏ tàu với những ý kiến trái chiều là mang về Bảo tàng để hay giữ lại biển, và bảo quản nó như thế nào. Theo tôi chúng ta nên giữ lại ở biển và xây dựng hệ thống lưới bảo vệ. Như vậy, vừa có thể giảm được những hư hại do thay đổi môi trường, do việc di chuyển. Đồng thời, với vị trí cách bờ biển Bình Châu khoảng 200m và nằm sâu 3,5-4m so với mực nước biển, thì tàu cố này là một môi trường quá thuận lợi để làm nơi thực địa, đào tạo các chuyên gia khảo cổ học dưới nước cho nước ta trong tương lai.
2.2. Bài học về việc xây dựng pháp lý về di sản khảo cổ học dưới nước
Từ Philippin.
Là một quốc gia hải đảo nên Khảo cổ học dưới nước của Philippin cũng khá phát triển từ những thập niên 1980 với dấu ấn của các nhà Khảo cổ học người Mỹ như: Roy E. Dickerson, H. Otley Beyer. Các nhà Khảo cổ học tiên phong này đã đặt nền móng cho ngành khoa học Khảo cổ ở Philippin không ngừng phát triển về nhiều lĩnh vực khác nhau và đặc biệt là lĩnh vực về Khảo cổ học dưới nước của quốc gia hải đảo này.
Những chính sách về tàu đắm ở Philippin đã được đề ra đầu năm 1980, từ đó có những sự thay đổi nhất định. Bảo tàng quốc gia là tổ chức hoàn toàn chịu trách nhiệm về việc tìm kiếm tàu đắm và các chương trình khai quật. Và luôn luôn có sự hợp tác với các công ty nước ngoài ở Philippin. Sau khi khai quật, thì tỉ lệ được chia giữa bảo tàng và tổ chức cứu hộ cùng hợp tác là 50/50 {9:17}.
Philippin cho phép sự tham gia của các công ty thương mại, hoặc các địa phương đăng ký điều tra, khảo sát, khai quật các di chỉ khảo cổ học dưới nước. Chính sách chia sẽ duy nhất trong những cuộc khai quật ở Philippin học giữ lại một nửa số hiện vật khai quật được cho các bảo tàng. Số hiện vật còn lại đơn vị tổ chức khai quật có quyền bán. Bảo tàng Quốc gia hoàn toàn chịu trách nhiệm cho tất cả các khía cạnh của cuộc khảo sát con tàu đắm và các dự án khai quật. Cảnh sát biển phải phê duyệt của công tác đối với tàu thuyền an toàn và ô nhiễm, nhưng ngoài rằng quốc gia Bảo tàng có đầy đủ thẩm quyền. Trong khi người nước ngoài có xu hướng để tài trợ cho các dự án, đào tạo bảo tàng nhân viên đóng một vai trò tích cực bao gồm lặn, tài liệu, và bảo tồn đồ tạo tác.
Từ Indonesia
Ở Indonesia, các nhà nghiên cứu đã tìm kiếm và khai quật được tàu đắm là Belitung (Tang) (tàu đắm thể kỷ thứ 9), Tàu Intan (tàu đắm thể kỷ thứ 10), tàu đắm Bakau (tàu đắm thế kỷ 15), và tàu đắm ở biển Java thế kỷ 13 {9:17}, cùng các tàu đắm Nanking và Tek Sing.
Ban đầu những người Indonesia thay mặt cho các tổ chức nước ngoài đứng tên khai quật các di tích khảo cổ học dưới nước. Nhưng sau ba cuộc khai quật đầu là khai quật được tàu đắm là Belitung (Tang) (tàu đắm thể kỷ thứ 9), Tàu Intan (tàu đắm thể kỷ thứ 10), tàu đắm Bakau (tàu đắm thế kỷ 15) thì các công ty trực tiếp đứng tên khai quật các di tích khảo cổ học dưới nước ở nước này.
Các chính sách về tàu đắm ở Indonesia có vẻ là luôn có sự biến chuyển, chuyển đổi. Tuy nhiên, một trong những khía cạnh tối thiểu mà không thay đổi đó là có sự tham gia của các tổ chức khảo cổ học. Thực ra, trong nhiều trường hợp thực tế không phải tất cả đều có sự tham gia của các nhà khảo cổ học Indonesia và họ cũng không yêu cầu phải giữ lại tất cả những hiện vật đã khai quật được trong nước. Thỏa thuận phân chia lợi nhuận theo tỷ lệ 50/50, thanh toán bằng tiền mặt sau khi nộp lệ phí cấp giấy phép khai quật {9:17}.
Chính phủ Indonesia thành lập một ủy ban con tàu đắm, Panitia Nasional. Ngay sau khi hình thành Panitia Nasional nghĩ ra một chính sách mà địa phương hoặc nước ngoài công ty có thể cứu hộ đắm tàu lịch sử trong vùng biển Indonesia. Nhóm này đã phải hoạt động thông qua một công ty đăng ký của Indonesia với một đối tác địa phương. Họ đã phải trả một khoản tiền đáng kể trước khi họ có thể bắt đầu làm việc. Họ cũng đã phải nộp lệ phí và nhận được sự cho phép từ 22 cơ quan chính phủ khác nhau trước khi nộp tiền lệ phí cấp giấy phép khảo sát, giấy phép, lệ phí cao hơn ngay cả đối với trục vớt nếu cuộc điều tra đã thành công.
Ở Việt Nam tàu đắm chính thức được phát hiện và khai quật từ năm 1990 với việc khai quật tàu cổ Hòn Cau, đến 15 năm sau, năm 2005 thì Nghị định của Chính phủ Về quản lý và bảo vệ di sản văn hóa dưới nước số 86/2005/NĐ-CP mới được ban hành. Tuy nhiên, hiện nay để làm theo các điều khoản trong nghị định vẫn còn nhiều vấn đề bất cập như sau khi phát hiện ra di tích, để làm đúng quy trình khai quật thì vấn đề bảo vệ hiện trường rất khó khăn, thường dẫn đến việc người dân phá hoại di tích trước khi cơ quan chức năng bắt tay vào khảo sát như trường hợp khảo sát tàu tọa độ X3 ở Vũng Tàu. Còn sau khi phân chia thì nhiều hiện vật đẹp, có giá trị lại không phải độc bản, mà không phải độc bản thì cái đẹp thường bị mang đi bán đấu giá, hiện vật giữ được lại đôi khi xấu hơn, lỗi hoặc vỡ đôi chút.
2.3. Kinh nghiệm về xây dựng cơ sở bảo quản, trưng bày di sản văn hóa dưới nước
Từ Singapore:
Ở Singapore, vào ngày 15 tháng 10 năm 2011 đã chính thức mở cửa Bảo tàng trải nghiệm Hàng hải (The Maritime Experiential Museum), đây chính là một góc nhìn sáng tạo về lịch sử Con đường Tơ lụa trong ngành Hàng hải.Với hơn 400 hiện vật quý hiếm, Bảo tàng trải nghiệm Hàng hải sẽ đưa bạn đến với những chuyến hải trình huyền thoại.
Ở đây trưng bày bản sao với kích thước y như thật của Con tàu Kho báu và hạm đội khổng lồ của Đô đốc Trịnh Hòa. Được biết, những Con tàu Kho báu này giong buồm cạnh 30 – 40 con thuyền cỡ vừa như mã thuyền, thuyền hậu cần, chiến thuyền và thuyền chở nước và dầu – cung cấp tất cả những nhu cầu thiết yếu cho chuyến hành trình.
Đến với 8 hải cảng tại SOUK, khách tham quan sẽ kinh ngạc với hình ảnh, mùi vị và âm thanh của con người, văn hóa và những câu chuyện thú vị về những hải cảng này dọc theo con đường thông thương hàng hải. Tìm hiểu thêm về hải thương, con người và văn hóa với các tương tác đa dạng thú vị được đặt dọc SOUK và tầng hầm viện bảo tàng.
Một trong những điểm nổi bật của Bảo tàng là “Kho báu của Muscat” - một món quà của Chính phủ Oman. Đây là phiên bản có kích thước như thật của những chiếc thuyền buồm thế kỷ thứ 9. Khách tham quan sẽ kinh ngạc và thú vị về cách con thuyền được tái tạo và hải trình lịch sử của nó từ Oman đến Singapore, di chuyển chủ yếu nhờ vào sức gió và định hướng thiên văn học. Người tham quan được tận tay thử lái con tàu vượt biển nhờ “kamal” - thiết bị định hướng Ả Rập cổ đại. Đồng thời, còn có thể trải nghiệm cơn thịnh nộ của biển cả tại Nhà hát Typhoon Theatre, nhà hát truyền thông đa phương tiện 360 độ đưa khách tham quan vào chuyến đi đầy nguy hiểm trên con thuyền Trung Hoa thế kỷ thứ 9. Chất đầy hàng hóa, con thuyền gặp phải bão biển. Đại dương gào thét, bầu trời tối sầm và con thuyền lắc lư, lật nhào và cuối cùng đắm dần xuống biển. Đến cuối, hành khách tự thấy mình dưới đại dương sâu thẳm, cạnh những mảnh vỡ của con tàu đắm.
Với cách thiết kế, xây dựng và trưng bày trực quan, sinh động này, sẽ góp phân giúp công chúng, đặc biệt giới trẻ tăng thêm nhiều hiểu biết về lịch sử Hàng hải đất nước, cũng như khơi dậy niềm đam mê, ham học hỏi của những người yêu lịch sử đất nước họ. Đây là một khía cạnh còn rất thiếu của tất cả bảo tàng ở Việt Nam {16}.
Từ Brunei:
Một trong những phát hiện thú vị nhất trong thời gian qua tại Brunei là tìm thấy xác tàu chìm của Trung Quốc cách khoảng 40 km ngoài khơi bờ biển của Brunei. This 1997 discovery of what is now known as the Brunei Shipwreck is probably one of the most important in Brunei's archaeological history. Con tàu đắm này được phát hiện vào năm 1997. Di tích đó bây giờ được gọi là tàu đắm Brunie (Brunie Shipwreck). Đây có thể được coi là một trong những quan trọng nhất trong lịch sử khảo cổ của Brunei. Some 13,000 artefacts recovered originated from Thailand, Vietnam and China showed just how successful and flourishing was the Brunei trade with the region some 500 years ago. Hơn 13.000 hiện vật được thu hồi từ con tàu này, chúng có nguồn gốc từ Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc. Phát hiện này cho thấy sự phát triển và thịnh vượng của thương mại Brunei với khu vực khoảng 500 năm trước đây. The Brunei harbor was once one of the most active in the South China Sea, strategically located not far from the thriving commercial markets of Thailand, Vietnam and China. Các cảng Brunei đã từng là một trong những cảng biển hoạt động mạnh trong vùng biển Đông, vị trí chiến lược không thua so với các thị trường thương mại phát triển mạnh của Thái Lan, Việt Nam và Trung Quốc {17}.
Vào ngày 14 tháng 12 năm 2006, Một dự án xây dựng bảo tàng khảo cổ học hàng hải đã được khởi xướng và đang được xây dựng trên một mảnh đất đo khoảng 3,53 ha, với kinh phí 5 triệu đô la (14). Các phòng triển lãm của Bảo tàng Khảo cổ học Hàng hải sẽ hiển thị đồ tạo tác khác nhau miêu tả mối liên hệ giữa nhân loại với sông và biển từ thời cổ đại. Dự án cũng sẽ cho phép các thành viên của công chúng hiểu được vai trò của đất nước Brunei như là một trung tâm thương mại hàng hải trong thời cổ đại và phát triển một ý thức cao nhận thức và trách nhiệm đánh giá cao của di sản văn hóa đất nước đồng thời thúc đẩy nó như là một điểm đến du lịch {18}.
Việc xây dựng sẽ bao gồm ba phòng triển lãm sẽ được sử dụng để triển lãm các biên niên sử của cộng đồng địa phương với sự tồn tại hàng hải cùng với các quan hệ thương mại lịch sử của Brunei với các khu vực khác (theo thứ tự thời gian) cũng như một màn hình hiển thị của các đồ tạo tác đã được đắm tàu phát hiện dọc theo vùng nước Brunei.
Bảo tàng Hàng hải bao gồm ba tầng mà cũng sẽ bao gồm các phòng kho, văn phòng chính, phòng nghiên cứu, phòng thí nghiệm phòng họp, nhà vệ sinh công cộng, khu vực tiền sảnh, phòng khách, surau, ba phòng triển lãm thường xuyên hoạt động và một phòng triển lãm tạm thời để sử dụng khi cần tổ chức các cuộc triển lãm theo những chủ đề nhất định trong thời gian ngắn. Các bản vẽ kiến trúc của Bảo tàng Hàng hải xây dựng để minh họa "một hình hình ảnh con tàu Bulletin đã được sáng tạo cùng với một sự thiết kế hiện đại {18}.
Những thiết kế, trưng bày trực quan, sinh động, hiện đại thế này là một điểm yếu trong trưng bày bảo tàng ở Việt Nam. Thiết nghĩ chúng ta cần có những sự nghiên cứu, đầu tư để xây dựng những mô hình nhằm lưu giữ những tài sản vô giá từ những cuộc khai quật dưới nước. Đồng thời, giới thiệu chúng đến công chúng.
Kết luận:
Trong hơn 20 năm qua, chúng ta đã phối hợp với quốc tế tiến hành nghiên cứu 6 con tàu đắm: Hòn Cau (1990 - 1991); Hòn Dầm (1991); Cù Lao Chàm (1997-1999); Cà Mau (1998-1999); Bình Thuận (2001-2002); Bình Châu (2013), nhưng chủ yếu công việc khai quật là do các thợ lặn nước ngoài hoặc trong nước tiến hành chứ chưa thực sự có các nhà khảo cổ học dưới nước với các trang thiết bị chuyên dụng và kỹ năng khai quật khảo cổ học dưới nước tiến hành. Năm 2013, Chủ tịch Viện hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam đã và đang cho phép Viện Khảo cổ học thành lập bộ phận khảo cổ học dưới nước và xây dựng đề án từng bước hình thành ngành khảo cổ học dưới nước, trình Viện hàn lâm xem xét để tiến hành các bước tiếp theo, nhưng nguồn nhân lực của ngành vẫn còn yếu, cơ sở vật chất và trang thiết bị không có, kinh phí để chủ động khai quật, khảo sát không có. Trong khi đó, ở khu vực Đông Nam Á hầu hết các nước có biển đảo đều đã phát triển ngành khảo cổ học dưới nước mạnh mẽ. Thái Lan có Trung tâm Khảo cổ học dưới nước với hệ thống các cơ quan liên quan như UNESCO Thái Lan, Bảo tàng Hàng hải Thái Lan, Hải quân Thái Lan, các trường Đại học Thái Lan. Kinh phí xây dựng ngành ban đầu cho cả phương tiện và đào tạo là 900.000USD. Cơ quan khảo cổ học dưới nước của Indonesia có hàng chục chi nhánh với hơn 100 cán bộ ở các vùng ven biển toàn quốc. Malaysia đã khảo sát và khai quật được 10 con tàu đắm. Có những quy định khá chặt chẽ về pháp luật đối với di sản khảo cổ học dưới nước. Xây dựng bảo tàng khảo cổ học hàng hải (trưng bày thường xuyên hiện vật từ 7 con tàu đắm ở nước này), lập trang web chuyên giới thiệu về các con tàu đắm đã khai quật được. Philippin đề ra nhiều chính sách tàu đắm, xây dựng bảo tàng, khai quật nhiều di tích trong đó đặc biệt là khai quật tàu đắm Pandanan. Indonesia cũng đã khai quật khoảng 10 tàu đắm, thu được nhiều hiện vật có giá trị cao. Đề ra được nhiều chính sách về khảo cổ học dưới nước. Trong đó cuộc khai quật tàu đắm Tek Sing được cho là cuộc khai quật thành công nhất. Brunie đã tiến hành khai quật thành công tàu đắm Brunei và xây dựng một bảo tàng khảo cổ học hàng hải rất quy mô và đặc biệt…
Do vậy, từ những kinh nghiệm của các nước trong khu vực, chúng tôi kiến nghị Quốc hội, các cấp, các ngành liên quan quan tâm mạnh mẽ hơn đến việc đầu tư phát triển, cơ sở vật chất, xây dựng nguồn nhân lực để có thể phát triển ngành khoa học tiềm năng, nhiều ý nghĩa này. Trong đó, trước tiên phải có phương án bảo vệ các di sản dưới nước và biện pháp khai quật “cứu hộ” khẩn cấp lúc phát hiện ra di tích.
Tài liệu trích dẫn:
- Ban khai quật tàu đắm cổ Cù Lao Chàm (2000), Khai quật tàu đắm cổ Cù Lao Chàm (1997 – 1999), Những phát hiện mới về khảo cổ học năm 2000.
- Nguyễn Đình Chiến (2005), “Khai quật khảo cổ học tàu cổ Cà Mau”, Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam tập 2, Nxb khoa học xã hội, Hà Nội.
- Nguyễn Đình chiến (2002), Tàu cổ Cà Mau – The Ca Mau shipwreck 1723 - 1735, Hà Nội.
- Nguyễn Đình Chiến (2013), “Tổng quát về 6 con tàu cổ đã khai quật ở vùng biển Việt Nam”, tài liệu hướng dẫn lớp bồi dưỡng kiến trức quản lý di sản văn hóa vật thể dưới nước.
- Nguyễn Đình Chiến (2013), “Đồ gốm sứ trong các con tàu đắm ở vùng biển Việt Nam”, tài liệu hướng dẫn lớp bồi dưỡng kiến trức quản lý di sản văn hóa vật thể dưới nước.
- John Guy, “Gốm Việt Nam và tầm quan trọng của đồ gốm ở tàu đắm Hội An”, Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam, tập 2.
- Fine arts department Thailand, Underwater Archaeology in Thailand II, page 15.
- Michael Flecker (2002), “The ethics, politics, and realities of maritime archaeology in Southeast Asia”, The international journal of nautical Archaeology, The Nautical Archaeology Society, page 17.
- Dr Michael Flecker (2006), “Shipwreck policies throughout Asia: A first – hand account”, Maritime Explorations, Singapore/ Malaysia IPPA conference, Manila.
- Nguyễn Quốc Hùng (2005), “Hơn một thập kỷ khai quật khảo cổ học dưới nước ở Việt Nam”, Một thế kỷ khảo cổ học Việt Nam tập 2, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
- Phạm Quốc Quân, Tống Trung Tín (2000), Báo cáo kết quả khai quật khảo cổ học dưới nước tàu đắm cổ Cù Lao Chàm (Quảng Nam) (1997 – 1999), Hà Nội.
- http://www.binhthuantoday.vn/modules.php?name=News&op=viewst&sid=14115
- http://ussh.vnu.edu.vn/vi-tri-cua-viet-nam-trong-he-thong-thuong-mai-bien-dong-thoi-co-trung-dai/1252
- http://www.uri.edu/artsci/his/mua/in_the_field/thai.html
- http://www.iccrom.org/eng/01train_en/announce_en/2009_08CollAsiaPHL_en.shtml
- http://www.rwsentosa.com/
- http://bruneiresources.blogspot.com/2006/08/what-happened-to-brunei-shipwreck_10.html
- http://www.brudirect.com/DailyInfo/News/Archive/June07/200607/nite25.htm
Một số hình ảnh:

Khai quật tàu cổ Bình Châu năm 2013
Tài liệu TS. Nguyễn Đình Chiến

Hình: Sinh viên Thái Lan tham gia học vẽ trong dự án dạy khảo cổ học dưới nước tại di tích tàu đắm Hin Bush, Rayong, Thailand
Nguồn: http://www.uri.edu/artsci/his/mua/in_the_field/thai.html

Mô hình tàu đô đốc Trịnh Hòa kích thước thật và hạm đội của ông được trưng bày tại Bảo tàng Trải nghiệm Hàng Hải của Singpore
Nguồn: http://ussingapore.blogspot.com/2012/01/maritime-museum-review.html







