|
VNU LogoHCMUSSH Logo
+1

Phạm Đức Mạnh một đời đam mê và cống hiến

06/09/2021
CHIA SẺ:
Phạm Đức Mạnh một đời đam mê và cống hiến

PGS.TS. Nguyễn Giang Hải 
(Nguyên Viện trưởng Viện Khảo cổ học Việt Nam)


Thế là Anh đã ra đi. Dẫu biết rằng điều này rồi sẽ đến nhưng không ai là không khỏi bàng hoàng khi nghe tin dữ về Anh: Anh là Phạm Đức Mạnh – Phó Giáo sư, Tiến sĩ, Nguyên Giám đốc Trung tâm Khảo cổ học Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ); Nguyên Giám đốc Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa, Trưởng Bộ môn Bảo tàng học  và Di sản, Trưởng Bộ môn Khảo cổ học, Giảng viên cao cấp Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.
Vào lúc 05 giờ 45 phút ngày 05 tháng 9 năm 2021, tức ngày 29 tháng 7 năm Tân Sửu, Phạm Đức Mạnh nói lời tạm biệt chúng ta, trút hơi thở cuối cùng để về nơi miền cực lạc. Anh đã ra đi âm thầm, nhẹ nhàng như Anh đến với cuộc đời này.
Phạm Đức Mạnh thuộc lớp đàn Anh của  tôi. Anh sinh ngày mùng 01 tháng 02 năm 1954 tại vùng quê nổi tiếng Thái Bình nhưng Anh lại lớn lên nơi 36 phố phường cổ Hà Nội. Cái con phố nơi Anh ở mang vị mặn của biển: Phố Hàng Muối, và cả mùi hăng hắc: Phố Hàng Dầu. Nhưng chỉ vài bước chân thôi là đã ở trung tâm của Thủ đô yêu dấu: Hồ Hoàn Kiếm, Đền Ngọc Sơn, Tượng vua Lý Thái Tổ. Có lẽ chính điều này đã đưa đẩy cuộc đời Anh trở thành một nhà nghiên cứu khảo cổ học, một nhà nghiên cứu lịch sử.
Tốt nghiệp khoa Sử Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội vào Tháng 8 năm 1976, Anh bắt đầu công việc nghiên cứu tại Viện Khảo cổ học thuộc Ủy ban Khoa học Xã hội Việt Nam (nay là Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam). Hai năm sau, Anh chuyển vào làm việc tại Ban Khảo cổ, Viện Khoa học Xã hội tại Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Viện Khoa học Xã hội vùng Nam bộ), và sau đó là Bộ môn Khảo cổ học (Khoa Lịch Sử, trường ĐHKHXH&NV, ĐHQG-HCM) cho đến khi nghỉ hưu vào Tháng 6 năm 2020. Phạm Đức Mạnh đã có hơn 40 năm cống hiến cho ngành Khảo cổ học Việt Nam.
Tôi biết đến Anh vào khoảng đầu năm 1976, sau Tết Nguyên đán. Năm ấy, sinh viên năm nhất khoa Sử được đi thực tập Khảo cổ học tại Xuân Ổ, Võ Cường, Thị xã Bắc Ninh, còn Anh cùng các Anh Trần Quốc Trị, Nguyễn Văn Sơn đều đã tốt nghiệp đảm nhận công việc hướng dẫn những lứa đàn em khai quật Khảo cổ học. Trong con mắt lần đầu tiên trong đời được tham gia một chuyến điền dã ngoài trời, Anh thật sự đem đến cho những đàn em ấy một sự tò mò và ngưỡng mộ. Và từ đó, cái duyên nghề nghiệp đã gắn bó tôi với Anh suốt mấy chục năm sau này. 
Ba năm sau, vào Tháng 5/1979, khi đang thực tập tốt nghiệp chuyên ngành Khảo cổ học thuộc Di chỉ Đường Gio thuộc làng làm thuốc lá nổi tiếng Đình Bảng tôi bất ngờ được Thầy Trần Quốc Vượng cho vào miền Nam, đi điền dã ở tỉnh Đồng Nai. Một kỷ niệm mà tôi không bao giờ quên là những ngày ở Thành phố Hồ Chí Minh, tôi được Anh gọi về ở cùng với Anh và Anh Bùi Chí Hoàng trong căn hộ tập thể của Anh tại số 3 đường Lê Lai, gần chợ Bến Thành. Hết tiền Anh đã quyết định bán chiếc xe đạp, phương tiện duy nhất để Anh đi làm hằng ngày lấy tiền sinh hoạt cho 3 anh em (lúc đó cả anh Hoàng và tôi đều chưa tốt nghiệp).
Anh có thời gian đi Bộ đội thực hiện nghĩa vụ quân sự; giảng dạy lịch sử tại Trường Văn hóa Quân Khu 7 trong 3 khóa học 1980-1983. Sau khi giải ngũ, Anh tiếp tục với cương vị nghiên cứu tại Viện KHXH tại Tp. Hồ Chí Minh, rồi nghiên cứu sinh Viện Lịch sử Văn hóa Vật chất thuộc Viện Hàn lâm Khoa học Liên Xô tại Leningrad (1987-1991). Về nước, Anh làm Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Khảo cổ học, Viện KHXH tại Tp. Hồ Chí Minh và tham gia công tác giảng dạy thỉnh giảng tại Khoa Lịch Sử (Trường Đại học KHXH&NV, ĐHQG-HCM ngày nay). Năm 1995, Anh chính thức về phụ trách Bộ môn Khảo cổ học, Khoa Lịch sử, bấy giờ trường có tên gọi Trường Đại học Tổng hợp Tp. Hồ Chí Minh (QĐ số 212/TCCB, ngày 28/7/1995 của Hiệu trưởng Nguyễn Ngọc Giao.
Với nghề nghiên cứu và dạy học, Anh đã hướng dẫn nhiều Nghiên cứu sinh, Học viên cao học thành công trở thành những Nhà nghiên cứu khoa học uy tín, đồng thời bồi dưỡng nhiều giáo viên, sinh viên tham gia nghiên cứu khoa học đạt giải thưởng cấp Thành phố và cấp Bộ Giáo dục và Đào tạo. Anh có nhiều tâm huyết trong việc xây dựng chuyên ngành Khảo cổ học ở các tỉnh phía Nam, xây dựng nhóm nghiên cứu Lịch sử văn hóa, và Bảo tàng Lịch sử - Văn hóa Trường Đại học KHXH&NV – Đại học Quốc gia Tp. Hồ Chí Minh, góp phần xây dựng Bộ môn Khảo cổ học thứ hai và đào tạo sau đại học (thạc sĩ, tiến sĩ) chuyên ngành Khảo cổ học ở Việt Nam.
Đầu năm 2018, Anh bị căn bệnh quái ác "u phổi ác tính". Khi phát hiện đã ở giai đoạn cuối và di căn vào xương. Hay tin, tôi tức tốc từ Hà Nội vào TP. Hồ Chí Minh để thuyết phục Anh ra Hà Nội chữa bệnh. Gặp thầy, hợp thuốc, sức khỏe của anh tốt lên rất nhiều, anh ăn được, tóc mọc trở lại như chưa từng bị rụng, thậm chí tôi và Anh đã cùng nhau đến thăm một cuộc khai quật khảo cổ do học trò của anh thực hiện ở Đồng Nai, dự buổi ra mắt sách của Anh ở Biên Hòa (Đồng Nai).

Đam mê khoa học đến kiệt cùng sức lực. Chúng tôi không hề nói quá điều này. Ngay khi căn bệnh quái ác quật Anh, lần nào tôi đến thăm cũng thấy Anh đang ngồi làm việc trên máy tính. Anh uống thuốc giảm đau để làm việc. Cuốn "Đàn đá Việt Nam" kỷ niệm cuối cùng của hai anh em cũng phần lớn là công sức của anh.

Tôi đã âm thầm lên kế hoạch đưa Anh ra Hà Nội một lần nữa tổ chức một buổi gặp mặt với những người bạn thân nhất của anh. Anh đã hứa với tôi nếu sức khỏe cho phép. Tiếc thay. Lần cuối cùng tôi đến thăm và chào Anh để ra Hà Nội là thứ 3, ngày 11-4-2021. Anh rất mệt, nhưng vẫn ngồi ăn cơm cùng tôi. Tôi hẹn Anh sau ngày 1 tháng 5 sẽ lại vào Sài Gòn. Nhưng không ngờ đó lại là bữa cơm cuối cùng của chúng tôi ăn với nhau.

Tỷ mỹ, cụ thể, cẩn thận, nghiêm khắc là những đức tính mà ai làm việc với Anh đều nhận thấy. Chính tôi đã có lần bị Anh mắng dát mặt chỉ vì vô tình làm mất cái thước tỷ lệ 5cm để chụp ảnh hiện vật khảo cổ.
Hơn 40 năm gắn bó với nghề, kể cả lúc làm Nghiên cứu sinh ở Liên Xô, hay làm công tác giảng dạy Phạm Đức Mạnh chưa bao giờ đánh mất "bản năng khảo cổ học" của mình. Âm thầm, lặng lẽ, kiên trì làm việc đến mức nghiệt ngã. Di sản mà anh để lại là không hề nhỏ. Hàng trăm bài viết, hàng chục đầu sách mà chúng tôi không thể nào kể hết ra. Trong những công trình đã xuất bản của Anh phải kể đến những cuốn như: "Di chỉ khảo cổ học Bưng Bạc (Bà Rịa Vũng Tàu)" với 422 trang, xuất bản năm 1996; "Trống đồng kiểu Đông Sơn (Heger I) ở Miền Nam (Việt Nam)", 504 trang, xuất bản năm 2005; "Đàn đá tiền sử Lộc Ninh", 430 trang, xuất bản năm 2007; "Ứng dụng thạch học nghiên cứu hiện vật đá ở Nam Bộ và vùng phụ cận", 821 trang, xuất bản năm 2009; "Hàng Gòn-kỳ quan cự thạch Việt Nam", 508 trang, xuất bản năm 2015; "Đến với lịch sử-văn hóa Biên Hùng-Đồng Nai", 615 trang, xuất bản năm 2019; "Di tích khảo cổ học thời văn hóa Óc Eo-Hậu Óc Eo trên đất An Giang", 967 trang, xuất bản năm 2019...  Và gần nhất là "Mộ cổ Nam Bộ", 736 trang, và "Đàn đá Lộc Hòa", 450 trang đều xuất bản năm 2020. Và cũng còn đó những bản thảo hàng trăm trang nữa đang trên bàn của các biên tập viên nhà xuất bản chờ ngày ra mắt. Tiếc thay,  cuốn "Đàn đá Việt Nam" do tôi và Anh biên soạn đã không kịp đến tay Anh. Và với những đóng góp nghiên cứu kể trên, có lẽ Giải thưởng Trần Văn Giàu là chưa đủ với Anh.

PGS.TS Phạm Đức Mạnh đang nhận Bằng chứng nhận do nhà nghiên cứu Tô Bửu Giám, Chủ tịch Ủy ban Giải thưởng Trần Văn Giàu trao sáng ngày 12-9-2009. (Ảnh:Giao Hưởng. Báo Thanh Niên ngày 14-9-2009)


Vợ Anh, con Anh, các anh chị em Anh và nhất là Anh đã kiên cường, đã làm tất cả, vượt qua cả giới hạn của sự cố gắng nhưng chúng ta vẫn không thể giữ được Anh ở lại lâu hơn trong cuộc đời này.
Tôi sẽ không khóc nữa, để Anh đi trong thanh thản.
Hà Nội, đêm 5 tháng 9 năm 2021

CHIA SẺ:
Ngày cập nhật: 06/09/2021

Bài viết liên quan