Khoa Ngôn ngữ học tổ chức thành công Hội thảo Khoa học cấp Quốc gia lần 2 “Ngôn ngữ học và những lĩnh vực ứng dụng”

Ngày 26/11/2021, Khoa Ngôn ngữ học, Trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn - Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh đã tổ chức Hội thảo Khoa học cấp Quốc gia lần 2 Ngôn ngữ học và những lĩnh vực ứng dụng. Hội thảo thu hút hơn 150 đại biểu, khách mời là các nhà khoa học, nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học và các bạn sinh viên đến từ khắp nơi trên cả nước: GS.TS. Nguyễn Văn Hiệp (Viện trưởng Viện Ngôn ngữ học, PGS.TS. Đặng Ngọc Lệ (Chủ tịch Hội Ngôn ngữ học TP HCM), PGS.TS. Trịnh Cẩm Lan (Trưởng Khoa Ngôn ngữ học, ĐH KHXH&NV-ĐHQG Hà Nội), PGS.TS. Trần Kim Phượng (Trưởng Bộ môn Ngôn ngữ học, Trường ĐHSP Hà Nội), GS.TS. Nguyễn Thị Hai (Trường ĐH Thủ Dầu Một), PGS.TS. Phạm Hữu Đức (Trường ĐH Quốc tế), PGS.TS. Lê Kính Thắng (Trường ĐH Đồng Nai), PGS.TS. Đặng Thị Hảo Tâm (Trường ĐHSP Hà Nội), PGS.TS. Hoàng Quốc (Trường ĐH Sài Gòn)...
Phát biểu tại phiên khai mạc, TS. Lê Hoàng Dũng – Phó Hiệu trưởng Nhà trường nhấn mạnh Hội thảo này là nơi để các nhà nghiên cứu trình bày, trao đổi những tìm tòi đã nhiều năm dày công nghiên cứu hay mới chỉ là những ý tưởng chợt đến. Hội thảo này chắc chắn sẽ trở thành một nơi ươm mầm cho những ý tưởng đột phá, đó là điều mà chúng tôi hoàn toàn tin tưởng.
Hình 1. TS. Lê Hoàng Dũng – Phó Hiệu trưởng Nhà trường phát biểu tại Hội thảo
Hội thảo năm nay có kế thừa và phát triển từ thành công của các Hội thảo: Những vấn đề thực tiễn của Ngôn ngữ học ứng dụng ở Việt Nam (năm 2017), Những vấn đề Ngôn ngữ học ở Việt Nam và Đông Nam Á (năm 2018) và nhất là Hội thảo Ngôn ngữ học và những lĩnh vực ứng dụng (2020). So với năm 2020, số lượng tham luận mà các tác giả gửi về Hội thảo năm nay tăng lên. Qua việc tổ chức hai lần Hội thảo khoa học cấp Quốc gia về Ngôn ngữ học ứng dụng, Khoa Ngôn ngữ học tiếp tục khẳng định vai trò của ngành Ngôn ngữ học trong nghiên cứu ứng dụng. Từ đó, hướng đến sự chuyển mình để trở thành một trung tâm Ngôn ngữ học ứng dụng của cả nước.
Trong tham luận đề dẫn Cơ sở của Ngôn ngữ học ứng dụng, TS. Phạm Hồng Hải – Trưởng Bộ môn Ngôn ngữ học ứng dụng đã đề cập đến một số vấn đề cơ bản của Ngôn ngữ học ứng dụng như: quan niệm, cơ sở và định hướng của Ngôn ngữ học ứng dụng.
Hình 2. TS. Phạm Hồng Hải – Trưởng Bộ môn Ngôn ngữ học ứng dụng trình bày tham luận đề dẫn
TS. Phạm Hồng Hải cũng giới thiệu về những môn học mà Bộ môn Ngôn ngữ học ứng dụng của Khoa dự kiến sẽ đưa vào chương trình đào tạo ngành Ngôn ngữ học ứng dụng bao gồm:(1) Đại cương về Ngôn ngữ học ứng dụng, (2) Kí hiệu học và ứng dụng, (3) Ngữ pháp Chức năng hệ thống và ứng dụng, (4) Ứng dụng Ngôn ngữ học trong dạy Ngữ văn và Giáo dục học, (5) Ngôn ngữ học và ứng dụng trong Xã hội học, (6) Thực hành phân tích diễn ngôn, (7) Ngôn ngữ học khối liệu.
Sau tham luận đề dẫn, Hội thảo được chia làm 2 tiểu ban, mỗi tiểu ban có 3 phiên làm việc song song với nhau. Hội thảo tập trung vào các chủ đề cụ thể như:(1) Những vấn đề lý luận ngôn ngữ, (2) Ngôn ngữ học và những ứng dụng trong lĩnh vực báo chí truyền thông, (3) Ngôn ngữ học và những ứng dụng trong giảng dạy, (4) Ngôn ngữ học và những ứng dụng trong đối chiếu ngôn ngữ, (5) Ngôn ngữ học và những ứng dụng trong đời sống xã hội.
Ở tiểu ban Những vấn đề lý luận ngôn ngữ các tham luận đã thu hút sự quan tâm của nhiều người tham dự. Tham luận Tìm hiểu ngữ nghĩa của nhóm từ láy đôi hoàn toàn có vần "ăm" của GS.TS. Nguyễn Thị Hai hướng tới những gợi ý về việc dạy và học các từ láy cho học sinh bản ngữ, cũng như các học viên người nước ngoài quan tâm đến tiếng Việt. Tham luận Một ý nguyện nghiên cứu đối với Việt ngữ học của TS. Phạm Văn Thỏa tập trung vào khai thác các khía cạnh cấu thành kịch bản về ý nguyện nghiên cứu đối với Việt ngữ học. Tham luận “Vật dụng sóng đôi” trong tri nhận của người Việt (Khảo sát trong ca dao, tục ngữ và thành ngữ) của ThS. Nguyễn Đình Việt nhấn mạnh thêm một số nét độc đáo trong cách hình dung của người Việt về “vật dụng sóng đôi” trên cơ sở nghiệm thân. Các tham luận Phân tích diễn ngôn trên bình diện ngữ pháp chức năng hệ thống của ThS. Phan Tuấn Ly, Xác định tác giả theo hướng tiếp cận phong cách trắc học của ThS. Nguyễn Tuyết Nhung, Chỉ tố đánh dấu ý nghĩa diễn tiến trong tiếng Việt của HVCH. Phạm Vũ Đình Nguyễn cũng rất được quan tâm.
Hình 3. GS.TS. Nguyễn Thị Hai trình bày tham luận “Tìm hiểu ngữ nghĩa của nhóm từ láy đôi hoàn toàn có vần "ăm""
Hình 4. Tham luận “Một ý nguyện nghiên cứu đối với Việt ngữ học” của TS. Phạm Văn Thỏa
Hình 5. ThS. Nguyễn Đình Việt trình bày báo cáo tham luận ““Vật dụng sóng đôi” trong tri nhận của người Việt (Khảo sát trong ca dao, tục ngữ và thành ngữ)”
TS. Nguyễn Hoàng Trung – Phó Trưởng Khoa Ngôn ngữ học - Chủ trì tiểu ban Những vấn đề lý luận ngôn ngữ, TS. Huỳnh Bá Lân – nguyên giảng viên Khoa Ngôn ngữ học, TS. Nguyễn Vân Phổ - giảng viên Khoa Việt Nam học,... đã có những góp ý cho các tham luận. Góp ý của các nhà nghiên cứu cũng là những gợi mở cho các tác giả tham gia báo cáo.
Hình 6. TS. Nguyễn Hoàng Trung đóng góp ý cho các tham luận
Tiểu ban Ngôn ngữ học và những ứng dụng trong lĩnh vực báo chí truyền thông cũng nhận được sự quan tâm, trao đổi sôi nổi. Tham luận Kết quả đối chiếu diễn ngôn quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh dựa vào lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống của TS. Bùi Thị Kim Loan đã ứng dụng lý thuyết Ngôn ngữ học chức năng hệ thống vào nghiên cứu diễn ngôn quảng cáo. Tham luận Đặc điểm từ ngữ về dịch bệnh Covid – 19 trên báo điện tử của TS. Lê Thị Thùy Vinh tìm hiểu các xu hướng tạo từ ngữ về dịch bệnh Covid-19 trên báo điện tử và làm rõ vai trò, ý nghĩa của việc sử dụng từ ngữ trong đời sống xã hội. Tham luận Miền nguồn hành trình trong các ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt và Mỹ của TS. Nguyễn Xuân Hồng đã khái quát được việc triển khai ý niệm trong diễn ngôn chính trị tiếng Việt và diễn ngôn chính trị tiếng Anh Mỹ dựa vào miền nguồn hành trình, đồng thời so sánh các biểu thức ẩn dụ ý niệm tiêu biểu trong diễn ngôn chính trị của hai ngôn ngữ dựa vào miền nguồn này. Bên cạnh đó, các tham luận “Giễu nhại” trong diễn ngôn trào phúng từ góc nhìn liên văn bản (trên cứ liệu tiểu phẩm Hoàng Thiếu Phủ) của HVCH. Nguyễn Thị Thanh Bình, Một vài lỗi đặt tít báo của báo chí hiện nay của HVCH. Đoàn Thị Minh Châu,... cũng được chú ý.
Hình 7. Tham luận “Kết quả đối chiếu diễn ngôn quảng cáo tiếng Việt và tiếng Anh dựa vào lý thuyết ngôn ngữ học chức năng hệ thống” của TS. Bùi Thị Kim Loan
Hình 8. Tham luận “Đặc điểm từ ngữ về dịch bệnh Covid – 19 trên báo điện tử” của TS. Lê Thị Thùy Vinh
Hình 9. Tham luận “Miền nguồn hành trình trong các ẩn dụ ý niệm trong diễn ngôn chính trị Việt và Mỹ” của
TS. Nguyễn Xuân Hồng
Các tham luận của tiểu ban Ngôn ngữ học và những ứng dụng trong giảng dạy đã mang lại những ý nghĩa khoa học nhất định. Tham luận Vài nét về ngữ nghĩa của câu cầu khiến trong hội thoại và những ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt của TS. Trần Thị Kim Tuyến cũng thu hút sự quan tâm của những người tham dự Hội thảo. Tham luận Ứng dụng phần mềm Praat trong phân tích đặc điểm âm học thanh điệu tiếng Việt của ThS. Nguyễn Trần Quý và ThS. Trần Thị Thúy An nhấn mạnh khác biệt giữa các thanh điệu trong một phương ngữ và giữa các phương ngữ có thể được chứng minh nhờ số liệu có được từ việc xử lý âm thanh trên phần mềm Praat. Vì thế tham luận đã giới thiệu và áp dụng các thủ pháp, mô hình thông dụng trong phân tích thực nghiệm thanh điệu. Các tham luận Thực trạng tổ chức hoạt động điền dã ngôn ngữ học của Khoa Ngôn ngữ học, Trường ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM từ năm 2018 đến nay của nhóm tác giả ThS. Võ Tuấn Vũ và Tô Khánh Duy, Ngữ liệu trong sách Tiếng Việt 1 (chương trình giáo dục phổ thông 2018) của ThS. Phạm Bích Thiện, Các lỗi dịch tự động thường gặp khi sử dụng công cụ dịch máy trên một số văn bản Nhật - Việt của tác giả Nguyễn Thụy Nguyệt Quế cũng nhận được được nhiều phản hồi từ phía các đại biểu tham dự.
Hình 10. Tham luận “Vài nét về ngữ nghĩa của câu cầu khiến trong hội thoại và những ứng dụng trong giảng dạy tiếng Việt” của TS. Trần Thị Kim Tuyến
Hình 11. ThS. Nguyễn Trần Quý trình bày tham luận “Ứng dụng phần mềm Praat trong phân tích đặc điểm âm học thanh điệu tiếng Việt”
Các tham luận tại tiểu ban Ngôn ngữ học và những ứng dụng trong đối chiếu ngôn ngữ cũng thu hút nhiều người quan tâm. Tham luận Kết cấu tạo lập và ngữ nghĩa ngữ pháp hóa của chuỗi động từ thể liên dụng trong tiếng Nhật (so sánh đối chiếu động từ ghép trong tiếng Việt) của ThS. Nguyễn Đoàn Hương Thủy tìm hiểu ngữ nghĩa của chuỗi động từ nhằm giúp cho người học có thể ghi nhớ và vận dụng tốt hơn trong giao tiếp. Tham luận "Ở đây có bán cá tươi": Từ tri nhận văn hóa đến việc vận dụng ngôn ngữ trong biển hiệu tiếng Anh và tiếng Việt của ThS. Phạm Ngọc Trường Linh làm nền tảng lý thuyết để luận giải cho một số biểu hiện ngôn ngữ trong biển hiệu tiếng Anh và tiếng Việt. Bên cạnh đó, các tham luận thú vị khác có thể kể đến như: Khảo sát các đơn vị từ vựng “rất, quá, lắm” trong tiếng Việt và tiếng Hàn của HVCH. Ngô Hải Phương, Đại từ nhân xưng "kâo, ih" trong tiếng Êđê (đối chiếu tiếng Jrai) của Y Nei Rah La cũng nhận được nhiều đóng góp từ phía người tham dự.
Hình 12. ThS. Nguyễn Đoàn Hương Thủy báo cáo tham luận “Kết cấu tạo lập và ngữ nghĩa ngữ pháp hóa của chuỗi động từ thể liên dụng trong tiếng Nhật (so sánh đối chiếu động từ ghép trong tiếng Việt)”
Hình 13. ThS. Phạm Ngọc Trường Linh trình bày tham luận “"Ở đây có bán cá tươi": Từ tri nhận văn hóa đến việc vận dụng ngôn ngữ trong biển hiệu tiếng Anh và tiếng Việt”
Tại tiểu ban Ngôn ngữ học và những ứng dụng trong đời sống xã hội, các tham luận đã đem đến cho người nghe những kết quả nghiên cứu mới lại. Tham luận Phân tích ngữ âm để nhận diện người nói trong công tác điều tra của nhóm tác giả HVCH. Chiêm Minh Trường và PGS.TS. Nguyễn Thị Phương Trang đã phân tích giọng nói để xác định người nói dựa trên dựa vào lý thuyết về Ngữ âm học, bộ máy cấu âm, Phương ngữ học, giám định khoa học hình sự và ứng dụng phần mềm “Voice Workstation VS4.0”. Tham luận Ứng dụng mạng từ Vietnet trong việc đo khoảng cách ngữ nghĩa từ vựng tiếng Việt của nhóm tác giả Nguyễn Anh Khoa, Lê Thành Nguyên và PGS. TS. Đinh Điền đã tiến hành nghiên cứu các phương pháp đo khoảng cách ngữ nghĩa từ vựng tiếng Việt dựa trên mạng từ WordNet. Song song đó, các tham luận nghiên cứu về diễn ngôn như Chức năng kinh nghiệm trong diễn ngôn lời bài hát cách mạng Việt Nam thời kỳ 1954-1975 của ThS. Lê Trần Hữu, Hệ thống chuyển tác trong phần 3 đạo luật doanh nghiệp Singapore: Xác lập đặc điểm diễn ngôn của ThS. Nguyễn Thị Nhật Linh cũng được nhận được nhiều góp ý của người tham dự.
Hình 14. HVCH. Chiêm Minh Trường trình bày tham luận “Phân tích ngữ âm để nhận diện người nói trong công tác điều tra”
Hình 15. Tác giả Nguyễn Anh Khoa báo cáo tham luận “Ứng dụng mạng từ Vietnet trong việc đo khoảng cách ngữ nghĩa từ vựng tiếng Việt”
Bế mạc Hội thảo, TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh – Trưởng Khoa Ngôn ngữ học đã tổng kết nội dung các báo cáo trình bày trong Hội thảo và gửi lời cám ơn đến các nhà nghiên cứu, nghiên cứu sinh, học viên cao học và các bạn sinh viên đã tham dự và báo cáo tại Hội thảo.
Hình 16. TS. Huỳnh Thị Hồng Hạnh phát biểu tại phiên bế mạc
Hình 17. Ban tổ chức và người tham dự chụp hình lưu niệm cùng nhau
Hội thảo không ngừng củng cố quan điểm rằng có nhiều cách tiếp cận để nghiên cứu ngôn ngữ và khẳng định vai trò của ngôn ngữ và ngành Ngôn ngữ học trong nhiều lĩnh vực của đời sống xã hội. Thành công của Hội thảo là sự cổ vũ tinh thần mạnh mẽ đối với đội ngũ cán bộ giảng viên Khoa Ngôn ngữ học trong các hoạt động nghiên cứu thời gian tới.
KHOA NGÔN NGỮ HỌC





