|
VNU LogoHCMUSSH Logo

Kim Vân Kiều hội bản tại Thư viện Anh quốc - một bản Kiều quý được xuất bản

21/06/2026
CHIA SẺ:
Kim Vân Kiều hội bản tại Thư viện Anh quốc - một bản Kiều quý được xuất bản

“Trăm năm trong cõi người ta,”

Chữ tâm, chữ tài và tiếng thơ lục bát của Đại thi hào Nguyễn Du đã vượt qua bão táp hai thế kỷ để trở thành hồn cốt của dòng giống Tiên Rồng. Thế nhưng, ít ai biết rằng trong dòng chảy của hàng trăm dị bản, có một tác phẩm ngọc ngà từng được tạo ra bằng tinh thần vương giả cung đình triều Nguyễn, lưu lạc vạn dặm và hiện đang nằm im lìm tại Thư viện Hoàng gia Anh Quốc. Nhân dịp ấn bản phục dựng đặc biệt này được tái sinh với kỹ nghệ thêu nổi thủ công Đông Cứu và mạ nhũ vàng vương giả, chúng tôi kính gửi đến quý độc giả lời của ấn bản Truyện Kiều quý hiếm này.

1. Kiệt tác Truyện Kiều và hành trình hai thế kỷ văn bản hóa

Trải qua hơn hai thế kỷ kể từ khi Đại thi hào dân tộc Nguyễn Du đặt bút hoàn thành tập đại thành của nền văn chương cổ điển Việt Nam, Truyện Kiều (Đoạn trường tân thanh) đã vượt qua ranh giới của một tác phẩm văn học thông thường để trở thành biểu tượng tinh thần, là “linh hồn” của tiếng Việt và văn hóa Việt Nam. Với kết cấu truyện thơ Nôm độc đáo theo thể lục bát dân tộc, dựa trên cốt truyện Kim Vân Kiều truyện của Thanh Tâm Tài Nhân (Trung Quốc), Nguyễn Du đã thực hiện một cuộc đại phẫu thuật và tái sinh ngôn ngữ, đưa tiếng Việt đạt đến đỉnh cao của sự tinh tế, hàm súc và biểu cảm. Sức sống của tác phẩm chan hòa sâu sắc trong đời sống của toàn thể dân tộc: “Người trong nước từ kẻ ngu phu ngu phụ cho chí đến người có văn học, ai cũng biết, ai cũng đọc, mà ai cũng chịu là hay”.

Sự say mê và tiếp nhận nồng nhiệt ấy đã tạo nên một hiện tượng văn hóa độc nhất vô nhị trong lịch sử văn học nước nhà, tạo thành hai xu hướng tiếp biến rõ rệt. Một mặt, tác phẩm liên tục được tổ chức khắc in, sao chép, tái bản qua nhiều thời kỳ, kéo theo hoạt động phiên âm, chú giải, bình luận vô cùng rầm rộ. Mặt khác, tác phẩm trở thành nguồn cảm hứng bất tận cho giới văn nhân tài tử đua nhau đề Kiều, vịnh Kiều, hát Kiều, đố Kiều, bói Kiều, lẩy Kiều, tập Kiều. Thậm chí, tác phẩm còn được dịch ngược từ thơ Nôm ra thơ chữ Hán theo các thể lục bát, song thất lục bát, thất ngôn bát cú, cũng như chuyển hóa thành nhiều loại hình nghệ thuật dân gian và bác học như phú, diễn ca, tuồng, chèo.

Theo các thống kê thư tịch học hiện đại, giới nghiên cứu đã sưu tập và xác định được khoảng 63 văn bản Truyện Kiều cổ khác nhau bao gồm cả bản khắc in (bản phường, bản quan) và các bản chép tay. Trong hệ thống thư tịch đồ sộ và vô giá đó, một trong những văn bản đặc biệt quý hiếm, lộng lẫy và mang đậm dấu ấn nghệ thuật cung đình bậc nhất chính là bản Kim Vân Kiều tân truyện (thường gọi là Kim Vân Kiều hội bản), hiện đang được trân quý lưu giữ tại Thư viện Hoàng gia Anh (British Library, Luân Đôn) dưới mã số Or. 14844. Đây là một cổ vật văn hóa đặc sắc, kết tinh giá trị của cả văn chương, hội họa và kỹ nghệ thủ công đỉnh cao của tiền nhân.

2. Lịch sử phát hiện và hành trình tiếp nhận văn bản

Bản Kim Vân Kiều hội bản tại Thư viện Anh quốc có một lịch sử tiếp nhận đáng chú ý tại Việt Nam từ thập niên 1990 trở lại đây. Năm 1994, văn bản này lần đầu tiên được giới thiệu tới độc giả và giới học thuật trong nước thông qua bài viết “Quyển Truyện Kiều Nôm trong Thư viện Anh Quốc” của nhà nghiên cứu Nguyễn Ngọc Trí trên Tạp chí Kiến thức ngày nay (số 152). Ngay sau đó, PGS. Nguyễn Văn Hoàn cũng đã công bố phát hiện này với bài viết đầy hào hứng “Tìm thấy bản Kiều quý ở Luân Đôn” trên báo Nhân dân chủ nhật (số 35). Đến năm 1995, GS. Trần Nghĩa trong bài khảo cứu chuyên sâu “Sách Hán Nôm tại thư viện Vương quốc Anh” trên Tạp chí Hán Nôm (số 3) đã cung cấp những mô tả thư tịch học đầu tiên mang tính hệ thống về bản Kiều này. Tiếp sau đó, nhà nghiên cứu Nguyễn Quảng Tuân cũng dành nhiều tâm huyết khảo sát văn bản trong công trình Tìm hiểu Nguyễn Du và Truyện Kiều.

Năm 2017 đánh dấu một bước tiến mới khi nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo xuất bản công trình Truyện Kiều - Bản Nôm của Hoàng gia triều Nguyễn - Bản lưu tại Thư viện Anh Quốc, thực hiện phiên âm, chú giải và khảo dị. Tuy nhiên, một điều đáng tiếc lớn trong ấn bản này là toàn bộ phần chú giải chữ Hán nguyên bản của sách lại chưa được dịch chú dứt điểm; thay vào đó, tác giả đã đưa phần chú giải của một công trình phục nguyên khác vào để thay thế. Đến năm 2020, trên Tạp chí Sông Hương (số 379), nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung qua bài viết “Truyện Kiều, bản chép tay của Hoàng gia triều Nguyễn” đã khảo sát tự dạng, cách vận bút và đưa ra giả thuyết táo bạo rằng văn bản này mang dấu vết “châu phê” và biên soạn của chính hoàng đế Tự Đức.

Phải đến khi hai nhà nghiên cứu PGS.TS Trần Thị Băng Thanh và ThS. Nguyễn Thị Tuyết công bố công trình khảo cứu hết sức công phu và toàn diện: “Kim Vân Kiều tân truyện lưu trữ tại Thư viện Anh quốc - Một bản độc đáo trong hệ bản Nôm Đoạn trường tân thanh”, diện mạo và giá trị cốt lõi của phần chú giải chữ Hán trong văn bản mới thực sự được hiển lộ rõ ràng. Dựa trên các chứng cứ nội văn bản và phong cách mỹ thuật, giới nghiên cứu hiện nay tạm thời thống nhất rằng bản Kim Vân Kiều hội bản này được hoàn thành vào khoảng năm 1894 (Thành Thái thứ 6). Vì vậy, chúng tôi chọn gọi tên khoa học cho văn bản này là Bản Truyện Kiều hội bản 1894.

3. Đặc điểm hình thức văn bản: Đỉnh cao nghệ thuật cung đình

Về mặt hình thức, Bản Truyện Kiều hội bản 1894 là một tuyệt phẩm sách nghệ thuật. Toàn bộ tác phẩm gồm 152 trang tính cả bìa, trong đó bao gồm 6 trang bìa và 146 trang nội dung cốt lõi, được đánh số theo quy cách tờ sách Hán Nôm truyền thống (tương đương 73 tờ giấy bản gấp đôi, có lót giấy tây mịn ở giữa để tăng độ bền, kích thước chuẩn nguyên bản là 34 x 21 cm). Sách có 1 bài tiểu dẫn bằng chữ Hán viết theo lối chân phương cực kỳ nghiêm ngắn và sắc nét.

Tính chất “Ngự dụng” hoặc thuộc sở hữu của tầng lớp đại quyền quý, hoàng gia triều Nguyễn được thể hiện rõ mồn một qua lớp vỏ vật chất của cuốn sách. Tờ bìa trước và bìa sau được bọc bằng vải lụa gấm màu vàng hoàng gia phong túc, thêu họa tiết hình rồng mây tinh xảo. Đặc biệt, bốn tờ bìa lót bên trong (2 tờ lót trước, 2 tờ lót sau) đều được làm bằng loại giấy sắc màu đỏ chuyên dùng trong triều đình, vẽ hình rồng năm móng (ngũ trảo) uy nghi độc tôn của bậc đế vương, kết hợp với họa tiết mây ngũ sắc và bát bửu cổ điển.

Ấn bản Kim Vân Kiều hội bản (Kim Vân Kiều tân truyện) in năm 2022

Bố cục mỹ thuật trên từng trang sách được quy hoạch một cách khoa học, nhất quán từ đầu đến cuối, thể hiện tư duy thiết kế văn bản vô cùng chặt chẽ. Mỗi trang sách là sự kết hợp hài hòa của 6 yếu tố cấu thành:

  • Câu dẫn: Định vị vị trí đoạn trích.
  • Số tờ: Đánh dấu trang theo lối cổ.
  • Lời tóm lược nội dung: Viết bằng mực son (chữ tử) tóm tắt ngắn gọn diễn biến cốt truyện.
  • Phần thơ chính văn: Gồm các câu thơ Nôm của Nguyễn Du được chép chân phương.
  • Phần chú giải: Viết bằng chữ Hán, đặt ở phần thượng đầu hoặc xen kẽ để làm rõ nghĩa lý.
  • Tranh minh họa: Đặt ở vị trí trang trọng, tương ứng trực tiếp với nội dung đoạn trích.

Điểm đặc sắc không thể không nhắc đến chính là hệ thống 146 bức tranh minh họa độc bản được vẽ bằng mực nho cực kỳ chi tiết, sống động. Từng nét vẽ miêu tả từ trang phục, biểu cảm nhân vật, bối cảnh kiến trúc nội thất cho đến phong cảnh thiên nhiên đều tuân thủ nghiêm ngặt quy phạm hội họa cung đình Huế cuối thế kỷ XIX. Như nhà nghiên cứu Nguyễn Phước Hải Trung đã nhận định, văn bản này đạt đến độ chuẩn mực tối cao về cả thư pháp lẫn họa pháp, dẫu danh tính của nghệ sỹ tài hoa chép chữ và phóng bút vẽ tranh đến nay vẫn còn là một ẩn số đối với hậu thế.

4. Nội dung và đặc điểm học thuật của hệ thống chú giải

Nếu hình thức của Kim Vân Kiều hội bản 1894 làm say đắm người xem về mặt thị giác, thì hệ thống chú giải chữ Hán của văn bản lại là một kho tàng học thuật quý báu đối với các nhà nghiên cứu văn học trung đại. Qua quá trình khảo sát và thống kê nghiêm túc của chúng tôi, toàn bộ văn bản chứa đựng tổng cộng 705 lời chú giải độc lập (gần tương đương với con số 694 của PGS.TS Trần Thị Băng Thanh và ThS. Nguyễn Thị Tuyết). Hệ thống chú thích này được phân loại một cách khoa học dựa trên chức năng biểu đạt như sau:

  • Chú giải về xuất xứ, điển cố: 513 lời chú (chiếm tỷ lệ áp đảo 72,7%), tập trung truy nguyên nguồn gốc các điển tích, điển cố văn học Trung Hoa mà Nguyễn Du vận dụng.
  • Giảng giải về từ ngữ, nghĩa lý câu Kiều: 127 lời chú, làm rõ nghĩa của các từ Hán Việt cổ hoặc các cấu trúc cú pháp phức tạp.
  • Lời phê bình, bình luận văn học (Phê bình): 64 lời phê (bao gồm nguyên phê, cổ phê, phê vân), thể hiện quan điểm mỹ học, phẩm bình nhân vật và nghệ thuật tu từ của người xưa.
  • Lời khảo dị văn bản: 01 lời chú, ghi nhận sự khác biệt giữa các dạng chữ Nôm.

Ấn bản Truyện Kiều hội bản in năm 2025

Nguồn thư tịch và các tác giả được dẫn dụng trong văn bản thể hiện một nền tảng học vấn uyên bác, một “bộ bộ kinh điển” của người thực hiện chú giải. Qua thống kê chi tiết, chúng tôi nhận thấy văn liệu chủ yếu được khai thác từ ba nguồn mạch lớn:

Thứ nhất, hệ thống thư tịch, kinh điển và các bộ sử lớn của Trung Quốc: Tổng cộng có 60 bộ sách lớn được trích dẫn trực tiếp. Có thể kể đến các bộ kinh điển tối cao của Nho gia như Kinh Thi, Kinh Lễ, Kinh Dịch, Kinh Thư, Luận ngữ, Mạnh Tử, Hiếu Kinh; sử ký triều đại như Sử ký Tư Mã Thiên, Tống thư, Minh sử, Hán thư, Hậu Hán thư, Tấn thư, Nam sử, cùng các sách triết luận, tuyển tập văn học như Chiến quốc sách, Tả truyện, Trang Tử, Văn tuyển, Sở từ, Sơn hải kinh, Tây sương ký, Minh tâm bảo giám.

Thứ hai, hệ thống các tác gia văn học lịch đại Trung Hoa: Người chú giải đã dẫn dụng thơ văn của 73 tác giả lỗi lạc, trong đó đậm đặc nhất là các đại thi hào thời Đường - Tống - những đỉnh cao của nền thơ ca nhân loại như Hàn Dũ, Lý Bạch, Đỗ Phủ, Bạch Cư Dị (Bạch Lạc Thiên), Vương Duy, Mạnh Hạo Nhiên, Lý Thương Ẩn, Đỗ Mục, Ôn Đình Quân, Chu Hi (Chu Tử), Âu Dương Tu (Âu Vĩnh Thúc), Tô Thức (Tô Đông Pha), Vương Bột, Liễu Tông Nguyên, Cao Thích, Vi Trang, Hứa Hồn, v.v.

Thứ ba, nguồn thi liệu khuyết danh rộng lớn: Chiếm một số lượng không nhỏ, được người chú gọi chung bằng các định danh thư tịch học như cổ thi, cổ phú, cổ văn, dật thi, cổ ngữ, ngạn ngữ, tục ngữ, tạp lục, nhạc phủ... Sự phong phú này chứng tỏ người chú giải sở hữu một trí nhớ phi thường và một kho tàng ngữ liệu Hán văn cực kỳ đồ sộ trong tư duy.

5. Vị trí của Hội bản 1894 trong hệ thống văn bản chú giải Truyện Kiều

Để đánh giá một cách khách quan, khoa học và định vị chính xác tầm vóc của Bản Truyện Kiều hội bản 1894, chúng ta cần đặt nó trong dòng chảy đối sánh với các công trình chú giải Truyện Kiều tiêu biểu từ cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XXI:

  • Bản Trương Vĩnh Ký (1875, 1898): Gồm 671 chú giải (sau tăng lên 971 ở bản 1911), chủ yếu tập trung phiên âm quốc ngữ đầu tiên và giải nghĩa từ vựng, tiếng cổ, từ ngữ địa phương Nam Bộ để người đọc sơ cơ tiếp cận.
  • Bản Kiều Oánh Mậu (Đoạn trường tân thanh - 1902): Gồm 581 chú giải, giải thích từ cổ và có tham vọng chỉ ra các nguồn Hán văn mà Nguyễn Du sử dụng, nhưng độ bao phủ điển cố chưa đậm đặc bằng Hội bản 1894.
  • Bản Phạm Kim Chi (Kim Túy tình từ - 1917): Gồm 563 chú giải, phần lớn sao chép lại hệ thống của Kiều Oánh Mậu rồi chuyển dịch sang quốc ngữ, gia giảm ít nhiều.
  • Bản Bùi Khánh Diễn (1926): Gồm 975 chú giải, có xu hướng liệt kê tràn lan các nguồn văn học Trung Quốc.
  • Bản Bùi Kỷ - Trần Trọng Kim (1925): Gồm 992 chú giải tính cả phần khảo dị, lược bớt những chi tiết rườm rà của các bản trước nhưng đôi chỗ vẫn còn chú giải thừa.
  • Bản Lê Văn Hòe (1953): Đạt con số kỷ lục 2.389 chú giải, phân tích toàn diện từ ngữ Nôm khó, ngữ pháp, văn pháp, điển cố, bình luận nhân vật cho đến sửa sai các bản in trước.
  • Bản Hội Kiều học Việt Nam (2015): Trên 1.000 chú giải, tổng hợp thành tựu nghiên cứu hiện đại, tập trung vào tính chính xác của từ ngữ và điển cố.

Nhìn vào hệ thống trên, Bản Truyện Kiều hội bản 1894 với 705 chú giải đứng ở một vị trí vô cùng đặc biệt. Tác phẩm không sa đà vào việc giải nghĩa từ vựng thông thường mà hướng thẳng vào việc làm nổi bật “nghĩa lý văn chương”, phân tích điển cố uyên bác và đưa ra các lời phê bình câu chữ sâu sắc. Đây là văn bản thể hiện nhãn quan văn học của giới học giả tinh hoa cung đình phong kiến cuối mùa, xem Truyện Kiều như một thánh kinh văn chương cần được đối thoại bằng vốn liếng học thuật Hán học cao cấp nhất.

Tất nhiên, nhìn từ góc độ phê bình văn bản học hiện đại, hệ thống chú giải của Hội bản 1894 không phải không có những hạn chế. Như hai nhà nghiên cứu Trần Thị Băng Thanh và Nguyễn Thị Tuyết đã thẳng thắn chỉ ra: (1) Một số chú thích giải thích xuất xứ quá dông dài, sa đà vào kể chuyện lịch sử Trung Hoa mà quên mất mục đích giải mã câu Kiều; (2) Một số chú thích ít liên quan hoặc không hoàn toàn tương thích với ngữ cảnh biểu đạt của câu thơ; (3) Có hiện tượng nhầm lẫn nguồn gốc tác giả hoặc xuất xứ văn bản. Thêm vào đó, văn bản cũng mắc phải một nhược điểm chung của thời đại mà GS. Trần Đình Sử gọi là “bệnh sính Tàu, sính chữ nho”, cố gán ghép mỗi chữ, mỗi câu của Nguyễn Du vào một câu thơ, câu văn cụ thể nào đó bên Trung Quốc một cách khiên cưỡng. Điều này vô hình trung làm giảm đi tính sáng tạo độc lập, tài năng thiên bẩm và tính hiện thực bản địa sâu sắc của thiên tài Nguyễn Du.

Tuy nhiên, những hạn chế lịch sử đó không thể làm suy giảm giá trị độc nhất vô nhị của văn bản. Hội bản 1894 vẫn mãi là một chứng tích văn hóa bằng vàng, chứng minh cho tầm vóc vĩ đại của Truyện Kiều khi được chính giới thượng lưu triều đình tôn vinh và dày công nghiên cứu.

6. Về công trình phiên âm, dịch chú của chúng tôi

Nhận thức sâu sắc được tầm quan trọng, giá trị nghệ thuật và học thuật to lớn của Bản Truyện Kiều hội bản 1894, đồng thời mong muốn bù đắp lại khoảng trống học thuật mà các bậc tiền nhiệm chưa có điều kiện hoàn thiện dứt điểm, chúng tôi — Hoàng Ngọc Cương và Nguyễn Đức Bá — đã quyết định bắt tay vào thực hiện công trình nghiên cứu, phiên âm và dịch chú toàn diện hệ thống chữ Hán trong văn bản này với việc tổ chức bản thảo và đầu tư tài chính từ những cá nhân yêu mến Truyện Kiều và văn hoá dân tộc như Bác sĩ Dương Trung Dũng, Nguyễn Tài Linh.

Mục tiêu cốt loi của chúng tôi là tiến hành phiên âm chính xác, dịch nghĩa tường minh và chú thích rõ ràng toàn bộ 705 lời chú giải chữ Hán, bao gồm cả các lời phê, lời khảo dị của người xưa. Qua đó, chúng tôi hy vọng có thể cung cấp cho độc giả yêu mến Truyện Kiều, các nhà nghiên cứu văn học trung đại một tư liệu tham khảo học thuật hoàn chỉnh, đáng tin cậy để phục vụ công tác nghiên cứu và thưởng lãm nghệ thuật.

Trong quá trình triển khai công trình, chúng tôi xin bày tỏ lòng tri ân sâu sắc và thành kính nhất tới những kết quả nghiên cứu đi trước của các bậc học giả tiền bối. Đặc biệt là bài khảo cứu mang tính vạch đường hết sức công phu của hai tác giả PGS.TS Trần Thị Băng Thanh và ThS. Nguyễn Thị Tuyết, cùng bản phiên âm khảo dị văn bản Nôm cực kỳ nghiêm túc của Nhà Kiều học Nguyễn Khắc Bảo. Những thành tựu của quý vị chính là bệ đỡ, là cơ sở khoa học quan trọng để chúng tôi kế thừa và hoàn thành công trình này. Ngoài ra, trong quá trình dịch chú, đối với những câu thơ văn cổ Trung Hoa quen thuộc đã có bản dịch tiếng Việt chuẩn xác của các bậc dịch giả đi trước, chúng tôi cũng mạn phép được kế thừa, sử dụng lại và có ghi chú rõ ràng nhằm đảm bảo tính thẩm mỹ và văn phong văn học.

Phiên dịch và chú giải chữ Hán Nôm, đặc biệt là một văn bản tích hợp đa tầng nghĩa lý và mang đậm tính bác học cung đình như Hội bản 1894, luôn là một công việc cực kỳ phức tạp, thách thức và nhọc nhằn. Dù đã dành trọn vẹn tâm huyết, thời gian và sự cẩn trọng tối đa, bản dịch của chúng tôi chắc chắn vẫn không thể tránh khỏi những thiếu sót, nhầm lẫn nhất định do tầm kiến thức có hạn. Chúng tôi kính mong các bậc đàn anh, các nhà nghiên cứu và bạn đọc gần xa lượng thứ, thể tất và ân cần chỉ chính, góp ý thêm. Đó là niềm hoan hỷ và vinh hạnh lớn lao đối với những người làm công tác khoa học như chúng tôi.

Ấn bản đặc biệt số 40 này còn là một nỗ lực phục dựng vật chất đỉnh cao. Chúng tôi đã kế thừa trọn vẹn tỷ lệ nguyên bản 22 x 35 cm, phục dựng cấu trúc trình bày nội dung và hình ảnh trên bìa sách một cách nguyên vẹn nhất. Điểm độc đáo của ấn bản này là phần họa tiết Rồng trên bìa sách được thêu nổi thủ công hoàn toàn từ bàn tay tài hoa của các nghệ nhân làng nghề Đông Cứu — vùng đất tổ nổi tiếng với nghề thêu phục dựng long bào cung đình. Từng lớp chỉ thêu được đắp nổi tinh vi, tạo chiều sâu thị giác và xúc giác sống động, kết hợp với toàn bộ bụng sách được mạ nhũ vàng sang trọng, đồng điệu tuyệt đối với tinh thần vương giả của nguyên bản.

Xin trân trọng giới thiệu đến toàn thể quý độc giả một công trình văn hóa kết tinh từ tình yêu Kiều và tinh thần khoa học nghiêm túc!

Hoàng Ngọc Cương 

CHIA SẺ:
Ngày cập nhật: 21/06/2026

Bài viết liên quan