
Một buổi chiều cuối xuân, trời oi bức, tôi lần đầu tiên đặt chân đến Phương Bối. Từ xa, đã thấy bao phủ cả ngàn thông. Đi một chút, là rừng tre, như thể đang bước giữa rừng trúc mà chỉ một cái ngước nhìn đã thấy Ngọa Vân Am trước mặt.
Phương Bối Am là khởi phát của sư ông Nhất Hạnh, khoảng những năm 1964, là nơi mà Sư ông mong “xây dựng một trung tâm tu học để cho tất cả chúng tôi có nơi trở về để được nuôi dưỡng và trị liệu sau những thời gian hoạt động. Phương Bối Am sẽ thành một làng thực tập, gọi là Làng Hồng. Làng Mai ở Pháp cũng là một hậu thân của Phương Bối, Làng Hồng”.

Thế sự đổi dời, cũng là cái “tùy duyên” mà “hóa đạo”, đạo lại vốn không cầu nhan sắc, chẳng nề hình tướng. Phương Bối vẫn hiện hữu trong tâm thức, ý niệm của bao người về một cõi tĩnh lặng. Hàng tre xào xạc thổi. Hàng thông vi vu gọi. Thả bộ xuống đồi, một bên mạn sườn, có cái thất nhỏ của người con gái duy nhất của thi nhân Nguyễn Đức Sơn đang ở, nhìn ra xa là phố xá thị thiền chen chúc.
Mạn bên này, quanh co đường dốc, là lối đi ra mộ phần của Huệ Hải -Nguyễn Đức Sơn, ông mất tháng 6 năm 2020. Còn ghi lại ở mộ chí, “Ta đến đây. Khác với mây. Là ở lại”. Mây tan, ta cũng nào có tụ. Mây chẳng phải ra đi. Ta chẳng thể ở lại. Có khi, mây và ta là một, cũng tan tụ, mất còn, sinh diệt. Vậy thôi.
Chiều ở Phương Bối, không gì vướng, kể cả cái làn khói mỏng từ ụn lá tre mà phu nhân Nguyễn Đức Sơn vừa đốt. Tôi đứng từ xa, nhìn lại, cảm giác như bà đang đốt cả những muộn phiền thay chồng, cho chính mình. Là con gái Sài Gòn, vì yêu và mộ tài thi ca mà theo chồng, sinh con, nuôi chồng con đến mòn cả xuân sắc. Nay vẫn ngày ngày lo nhang khói, quét tước ở Phương Bối.
Cái lành lạnh từ trên đồi thông tỏa xuống lại gặp phải mùi khói đốt lá tre nồng ấm, cứ thế, vừa muốn căng mình, giang tay mà đón lấy; lại khe khẽ hít mùi vị của ký ức đang len trong từng sợi tóc. Rồi một mình, cứ bước, đất đồi thoai thoải, cao hay thấp là ở bước chân mình, có giữ được thăng bằng hay không mà thôi. Như một chút tâm xao động, thì tìm về Phương Bối Am, có khi lại càng thêm náo động.
Tôi bước ngang thất của Sư ông Nhất Hạnh, gần đó là thất của Sư ông Thanh Từ. Tôi nghe kể, người truyền thừa của thiền phái Trúc Lâm Yên Tử có về Phương Bối tu tập cùng huynh đệ -là Sư ông Nhất Hạnh- một khoảng thời gian ngắn. Ngày Sư ông Trúc Lâm rời đi, có trồng một gốc mai ở lại. Sau này Sư ông Làng Mai có một bài kệ trồng cây: “Tôi gởi tôi cho đất/Đất gởi đất cho tôi/Tôi gởi tôi nơi Bụt/Bụt gởi Bụt nơi tôi”.
Dưới cội mai già, hai ngôi thất giờ đã bạc màu sương gió, như mọi thứ vật chất vay mượn kia rồi cũng tới ngày hoại diệt. Chỉ có cái tâm-phật-tánh là ngự khắp muôn nơi. Vạn Pháp một nhà.
Nhớ có lần cách đây cũng gần 20 năm, Sư ông Trúc Lâm nói với tôi, tại sao các tăng ni của mình học hết chương trình đại học, muốn học cao hơn thì lại phải sang nước ngoài, cho nên thầy có nguyện ước mở những khóa đào tạo để hàng tăng ni sinh của mình hoàn tất cao học, nghiên cứu sinh ngay tại đất nước mình.
Giờ tìm về Phương Bối, lại đọc thấy tâm niệm của Sư ông Làng Mai trước khi lập Phương Bối Am, “chúng tôi muốn cống hiến một đạo Bụt lột xác có khả năng thả một bè lau, cứu lấy đất nước mình ra khỏi tình trạng tranh chấp, chiến tranh” - năm 1964.
Xuất gia với tinh thần nhập thế. Trong tiếng chuông chánh niệm, đường tìm về bản tâm vẫn đâu đó ưu thời chuyện nước non. Phương Bối Am như một dấu tích vàng son trên bước đường hành đạo của hai vị danh tăng -thiền sư Phật giáo Việt Nam đương đại.
Để một lần, dù tình cờ hay về lại, nơi Phương Bối Am, trong tiếng gió -là thanh âm của chuông và mùi đốt lá -là hương của nhang, không tìm mà bất giác thấy mình, đứa trẻ chập chững xuống đồi, bắt đầu cuộc đi tìm “hạt châu trong chéo áo”…





