|
VNU LogoHCMUSSH Logo

Nhẹ và nặng: Về hai lối hát Trịnh Công Sơn (Nguyễn Đình Minh Khuê)

01/04/2023
CHIA SẺ:
Nhẹ và nặng: Về hai lối hát Trịnh Công Sơn (Nguyễn Đình Minh Khuê)

1. Có lẽ sẽ không là quá lời khi cho rằng gia tài âm nhạc của Trịnh Công Sơn có một sức hấp dẫn mạnh mẽ đến kỳ lạ. Nếu tính từ thời điểm cuối thập niên 1950 khi người nhạc sĩ này bắt đầu có những sáng tác nổi tiếng đầu tiên, thì âm nhạc của ông đã đi cùng đời sống tinh thần người Việt hơn nửa thế kỷ, liên tục, sâu sát và bền bỉ.

Sức ảnh hưởng dài lâu, xuyên thời đại ấy của nhạc Trịnh càng được chứng tỏ khi đầu năm 2022, dự án “Gen Z và Trịnh” phát hành một series những ca khúc đã rất phổ biến của Trịnh Công Sơn nhưng được hoà phối lại và quan trọng là được hát lên bởi những giọng ca gen Z tài năng như Hoàng Dũng, Mỹ Anh, Juky San, Kiên,…

Lắng nghe họ hát lại những Tuổi đá buồn, Nhìn những mùa thu đi, Nắng thuỷ tinh,… cũng là một dịp thú vị để thử nhìn lại, thử nghĩ thêm về âm nhạc Trịnh Công Sơn, về cách hát nhạc Trịnh và sự dịch chuyển về mặt tinh thần giữa các thời đại, các thế hệ văn hoá.

2. Nặng là một yếu tính của nhạc Trịnh Công Sơn: nặng, chứ không phải nặng nề, tức không phải là khó hiểu, khó cảm, và càng không có nghĩa là trơ cứng, thiếu thanh thoát.

Có thể nhận ra sự nặng này, trước hết, ở phần nhạc điệu trong các sáng tác của Trịnh Công Sơn. Không ít người từng phát hiện rằng các ca khúc của ông hầu hết là các bài giọng thứ, thậm chí chỉ là la thứ (?), như nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường từng khẳng định trong tập biên khảo Trịnh Công Sơn và cây đàn lyre của hoàng tử bé. Như một quy tắc trong âm nhạc học (dù có thể vẫn còn một số tranh cãi nhỏ), so với các bài giọng trưởng, bài giọng thứ diễn tả tốt hơn sự trầm buồn, u tịch, tối tăm. Mà u buồn, hiểu một cách hình tượng, rõ ràng là trì kéo, là ghì xuống, là đổ sụp: khó ai có thể nhảy cẫng lên hay nhếch miệng cười vui khi buồn đau, mà ngược lại, người ta thở ra một hơi nặng nhọc, người ta ngồi xuống, thậm chí là ngã quỵ, và nước mắt rơi dài. Nhạc Trịnh Công Sơn dễ kéo lòng người chùng lại, trĩu nặng, một phần có lẽ cũng là vì điều này.

Thứ nữa, các ca khúc của Trịnh Công Sơn thường có những tiết điệu lặp đi lặp lại, đôi khi đến là đơn điệu, ít có các biến tấu, chuyển âm, hoa mỹ,… Cũng chính vì lý do này, những người không thích nhạc Trịnh Công Sơn cho rằng ông có một lối viết nhạc nghèo nàn, ít sáng tạo, thiếu bài bản khi so sánh với các nhạc sĩ tài danh khác như Văn Cao, Đoàn Chuẩn, Hoàng Trọng, Phạm Duy,… Tuy nhiên, đặc trưng này, theo tôi, thực ra lại rất phù hợp với cái nặng của nhạc Trịnh Công Sơn. 

Trước nhất, những giai điệu trở đi trở lại, đều đặn, dìu dặt, ít đột biến tạo cho các ca khúc của ông một phong cách ru. Và thực tế là Trịnh Công Sơn dường như cũng rất thích ru. Ru ta ngậm ngùi, Ru tình, Ru em, Ru em từng ngón xuân nồng, Ru đời đi nhé, Rơi lệ ru người,… Rồi nào là “Mẹ ngồi ru con/ Đong đưa võng buồn, đong đưa võng buồn” (Ca dao mẹ), “Ngủ đi em đôi môi lửa cháy/ Ngủ đi em mi cong cỏ mượt” (Em hãy ngủ đi), hay “Con ngủ, ngủ đi con/ Đứa con của mẹ da vàng” (Ngủ đi con),… Mà ru, rõ ràng là đưa võng, là dắt người ta vào cơn mê, là khiến người ta rũ xuống, chìm sâu xuống với mi mắt trĩu nặng.

Chưa kể, sự trở đi trở lại của những giai điệu trầm buồn trong xuyên suốt bài hát như ở trường hợp của Ru em, Tình sầu, Gọi tên bốn mùa, Biển nhớ, Diễm xưa, Cúi xuống thật gần,… luôn làm tôi liên tưởng đến bản sonata Ánh trăng lừng danh của nhà soạn nhạc người Đức Beethoven, mà nhất là đoạn đầu của bản sonata ấy với một vòng lặp âm thanh u tối, chậm rãi, dằng dặc, đưa đến cho người nghe cái cảm giác như đang bước đi, đang hành hương giữa đêm sâu về phía những vực thẳm, những mộ huyệt. Các sáng tác của Trịnh Công Sơn cũng vậy. Chúng vừa là những bản nhạc, những ca khúc mà đồng thời cũng là những tiếng kinh cầu. Nhưng những lời cầu kinh ấy không hướng thượng, chúng không phải là những lời tán tụng ân sủng thần linh, mà chúng “cúi xuống thật gần”, chúng nặng trĩu những tụng niệm cho quê hương, cho thân phận, cho trần gian khổ ải. Chúng là “kinh Việt Nam” khóc cho “vận nước điêu linh”, chờ ngày nhìn thấy “quê hương sáng chói”, là những “lời kinh đêm” “ru mẹ một mình ôm bóng đêm”, “ru đời chỉ còn me với con” (Sao mắt mẹ chưa vui), là những “Phúc âm buồn” tra vấn “còn bao lâu cho thân thôi lưu đày chốn đây/ còn bao lâu cho thiên thu xuống trên thân này” (Phúc âm buồn),… Chính Trịnh Công Sơn cũng thừa nhận điều này khi so sánh nhạc của mình với nhạc Văn Cao: “Âm nhạc của anh Văn là âm nhạc của thần tiên bay bổng. Tôi đi la đà giữa cõi người”.

Ưa la đà cõi người để chứng kiến và kinh trải những tai ương của một nhân loại khổ đau, lại thấm nhuần triết lý nhà Phật và chịu nhiều ảnh hưởng của triết học hiện sinh Pháp, không lạ gì khi Trịnh Công Sơn luôn biết cách làm trĩu nặng các ca khúc của ông bằng những ngôn từ, những hình ảnh, những suy tư đau đớn và ám ảnh. Ở đoạn cuối bài Gọi tên bốn mùa, Trịnh Công Sơn viết: “Trẻ thơ ơi, trẻ thơ ơi/ Tin buồn từ ngày mẹ cho mang nặng kiếp người”. Làm người, như vậy, với ông, có nghĩa là từ lúc chào đời đã bắt đầu biết mang vác những sầu não oằn gánh. Có lẽ chính từ những nền tảng quan niệm như thế mà các ca khúc của Trịnh Công Sơn, dù viết về chủ đề nào, tình yêu, chiến tranh, quê hương hay thân phận con người, và dù được sáng tác ở bất kỳ giai đoạn nào, cũng thường gắn với những gì bầm dập, u tối, nghiệt ngã, chết chóc và trì nặng.

Hiểu theo cách này, có thể thấy các ca khúc của Trịnh Công Sơn lúc nào cũng nặng, cũng ghì người ta xuống giữa một vũng trầm lắng, và chính vì thế hình như chỉ một số ít tiếng hát truyền tải được, lột tả được cái nặng đặc trưng ấy mới có thể thành công khi hát nhạc Trịnh Công Sơn.

3. Hãy nghe cách hát nhạc Trịnh của các giọng ca đã thành danh từ dòng nhạc này hoặc có những gắn bó sâu sắc với âm nhạc Trịnh Công Sơn thì rõ. Một Khánh Ly với chất giọng trầm, sâu, có lúc như mỏi mệt, ngã quỵ giữa cát bụi, có lúc vang động, rền dội từ đất trong những băng nhạc huyền thoại như Sơn ca 7, Hát cho quê hương Việt Nam. Một Thanh Thúy với tiếng hát rỏ lệ như vọng về từ những cõi thâm u khi trình diễn Ướt mi, Thương một người – hai bài hát mà Trịnh Công Sơn đã viết tặng riêng cho bà vào những năm cuối thập niên 1950, và cũng là những tác phẩm nổi tiếng sớm nhất của ông. Một Lệ Thu với màu giọng khàn, đôi khi trơ lạnh, tỉnh rụi mà lại thăm thẳm tâm sự cùng hoài niệm dù đang hát những bản nhạc tươi sáng thuở đôi mươi của Trịnh Công Sơn như Nắng thủy tinh, Nhìn những mùa thu đi,… Họ hát thật nhẹ nhàng, phiêu lãng, tự nhiên, không cố lên gân, bày biện, nhưng lắng nghe họ, người ta vẫn cảm thấy rất rõ sức nặng của tâm sự, suy tưởng, của những xúc động chân thật, và theo đó, mọi dồn nén thẳm sâu trong từng lời nhạc Trịnh Công Sơn tuôn ra.

Ở các thế hệ sau, không khó nhận thấy rằng cũng chỉ những ca sĩ có chất giọng dày, mộc mạc, cao độ chủ yếu ở mức trung trầm, có sức trĩu của tự sự như Cẩm Vân, Hồng Nhung, Quang Dũng, Giang Trang, Hoàng Trang,… mới dễ thu hút tai nghe số đông khi hát nhạc Trịnh.

Nhạc Trịnh Công Sơn, như vậy, thực sự rất kén người hát. Hình như chưa có một dòng nhạc nào lại dễ gây ra những tranh cãi về cách hát như nhạc Trịnh. Có không ít những kiểu hát, những giọng ca, khi trình bày các ca khúc của Trịnh Công Sơn, luôn vấp phải những phản ứng trái chiều, nhiều khi bị chối từ, thậm chí bị chê bai, dù cho đó có là những danh ca rất thành công ở nhiều dòng nhạc khác. Series “Gen Z và Trịnh” cũng là một trường hợp gây tranh cãi như vậy.

Tất nhiên, trước hết, cần phải khẳng định rằng nỗ lực thể nghiệm của những ca sĩ gen Z này có những ý nghĩa riêng. “Gen Z và Trịnh” cho những người trẻ hôm nay có cơ hội thử trải nghiệm nhạc Trịnh, thứ nhạc của một thời quá vãng xa xôi mà có lẽ đa số họ chưa từng thực sự nghe. Series này nhắc nhở họ về một di sản vàng son của âm nhạc và văn hóa dân tộc. Chưa kể, đó còn là cách nối dài sự hiện hữu của âm nhạc Trịnh Công Sơn, làm cho nhạc Trịnh có cơ hội được thử sống một đời sống khác, một tinh thần khác, một tâm thế khác.

Nhưng đôi khi sự cách biệt trở nên quá lớn. Mà nhất là, theo quan sát của tôi, trong khi sự nặng phủ trùm lên nhạc Trịnh Công Sơn như đã nói, thì nhiều người trẻ hôm nay, ngược lại, hình như lại thích mọi thứ trở nên nhẹ.

Họ ngại những thứ làm nặng ý nghĩ. Họ thích “an yên”, thích làm cho tâm trí nhẹ lại bằng những ngày thong thả chu du, những chuyến phượt đường dài. Họ hứng thú hơn với những cuộc dã ngoại, những quán cà phê mơ lãng giữa núi rừng, bên bờ suối. Họ ưa trở về với những hoài niệm lãng mạn, những cảnh xưa thơ mộng dù phần lớn chúng chỉ là những giả lập, ngụy tạo. Họ thích sống giữa tiện nghi hiện đại mà xung quanh vẫn được cây xanh hoa cỏ che chở, trang hoàng, làm dịu. Họ mê mẩn những gì “chill”, những âm thanh lo-fi lâng lâng, những đoạn rap khiến tâm trí bốc lửa,…

Thử nghe những bài hát trong series “Gen Z và Trịnh”, ta cũng dễ dàng nhận thấy tâm thế ấy. Các ca sĩ thế hệ Z trình bày nhạc Trịnh với những luyến láy phiêu bồng, những nhả chữ thật nhẹ, thật bay, thật Tây dù nhiều khi làm cho các từ ngữ hơi biến âm, nghe không được rõ. Các bản phối, kiểu đệm đều mới mẻ, lả lơi, bay bổng. Còn các music video thì tràn ngập những khung hình yên bình giữa nắng rọi với những kệ sách hoài cổ, những cây cỏ bài trí, những khu vườn thơm tho,…

Tinh thần dân chủ trong thưởng ngoạn nghệ thuật hẳn nhiên luôn nhắc nhở chúng ta không nên có những phán xét, những cái nhìn áp đặt đối với cách cảm và cách hát nhạc Trịnh nói trên, bởi với nghệ thuật, các ranh giới và quy chuẩn rất dễ trở thành những định kiến tai ác. Chỉ là, theo cách nghĩ rất cá nhân của bản thân tôi, sự thể nghiệm nói trên của những người trẻ ấy, chính vì muốn nhẹ, muốn bay, nên dường như đã phải bỏ lại, đã làm rơi rớt đi không ít những gì nặng của âm nhạc Trịnh Công Sơn, một thứ nhạc – như đã nói từ đầu – trĩu đầy trong cả giai điệu và lời ca của nó những thương xót tận cùng cho thân phận bi đát của tình yêu, của dân tộc, quê hương và nhân loại.

NGUYỄN ĐÌNH MINH KHUÊ

Nguồn: Bản tin ĐHQG-HCM, số 207-2022

CHIA SẺ:
Ngày cập nhật: 01/04/2023

Bài viết liên quan