|
VNU LogoHCMUSSH Logo

Thầy Chu Xuân Diên của tôi (Hồ Quốc Hùng)

19/10/2023
CHIA SẺ:
Thầy Chu Xuân Diên của tôi (Hồ Quốc Hùng)

PGS. Chu Xuân Diên (thứ năm từ trái sang) cùng người thân, đồng nghiệp và học trò

1. Tính Thầy thâm trầm, lặng lẽ, khiêm nhường, càng rất ít quảng giao, cứ như người tu luyện hơn là ở ẩn, nên không lạ, có dịp ghé Thầy thường thấy vắng vẻ, thỉnh thoảng mới thấy khách thăm viếng là bạn cũ hay học trò cũ. Nhiều người chỉ nghe tên Thầy qua sách vở mà ít được diện kiến. Thậm chí sinh viên thế hệ những năm 60 thế kỉ trước bảo, lâu lắm không biết Thầy ở đâu. Do đó, đôi điều tâm sự dưới đây mong góp thêm một góc nhìn về Thầy, mà nhiều người dù yêu kính Thầy cũng khó có dịp thấu tỏ.

Được giữ lại công tác ở Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội sau khi ra trường (1959), đến năm 1984, Thầy chuyển vào Trường Đại học Tổng hợp TP. HCM (nay là Trường ĐH KHXHNV) cho đến tận nay. Tính ra Thầy công tác ở đất phương Nam hơn 40 năm so với hơn 20 năm ở Hà Nội. Sự ngắt quảng đó khiến Thầy như vắng bóng ở Khoa Ngữ văn, Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nơi vùng vẫy của nhiều đấng anh tài đã thành danh thuộc nhiều thế hệ. Nhiều đồng nghiệp ít gặp và sinh viên thế hệ đầu 80 ở phía Bắc không có dịp thọ giáo mà chỉ biết tên Thầy qua giáo trình Văn học dân gian Việt Nam (soạn cùng GS Đinh Gia Khánh và PGS Võ Quang Nhơn) cũng như một số chuyên khảo khác. Còn Thầy lại phải bắt đầu từ vùng đất mới, lặng lẽ thiết lập các quan hệ. Vì vậy, có lẽ nơi để lại dấu ấn đậm nét của Thầy trong hoạt động giảng dạy, nghiên cứu là ở Trường ĐH KHXHNV thuộc ĐHQG TP. HCM. Chắc chắn đồng nghiệp tôi ở đấy sẽ nói rõ về Thầy hơn. Riêng tôi, mãi đến năm 1985 mới có dịp từ Huế vào thỉnh giáo Thầy, đúng ra là vào xin được trao đổi một số vấn đề còn mắc mớ về chuyên môn trong giảng dạy và nghiên cứu. Ba năm sau mới kết giao thực sự với Thầy sau khi chuyển công tác từ Trường Đại học Tổng hợp Huế vào Trường ĐHSP TP. HCM. Hơn 30 năm qua học hỏi, tôi có dịp cùng Thầy chia sẻ một số điều thuộc chuyên môn, dần mở rộng sang lĩnh vực khác, dần dà được Thầy tin cậy. Cũng tình cờ, may mắn, tôi rất gần gũi với GS Đỗ Bình Trị, người khó/ kĩ tính có tiếng trong làng Folklore nước ta, mà GS Đỗ Bình Trị lại có quan hệ dích dắc nào đó với Thầy trong gia đình (Thầy gọi GS Đỗ Bình Trị bằng chú cho phía cô) vì thế càng có chút gắn bó hơn. Gần hai cụ, tôi thấy họ hiểu nhau, tương kính thực sự. Cho nên nếu có dịp đàm đạo, thể nào tôi cũng được chia sẻ khi đề cập đến người này mà không có người kia giữa hai cụ. Tất cả đều xoay quanh chuyện nghề nghiệp và thấy các cụ sòng phẳng khi đánh giá nhau bằng thái độ trọng thị. May mắn hơn, sau nhiều lần chuyển nhà, thầy lại ở gần nhà tôi, cách nhau mấy trăm mét (Đường Đặng Văn Ngữ - quận Phú Nhuận, Tp. HCM) nên dường như gặp nhau thường xuyên. Cũng rất tự nhiên, vì lẽ nào đấy cô và các cháu dần dà cũng thân thiện với tôi. Chắc không phải chuyện xã giao thuần túy. Có lần cụ bà bảo, nhà tôi có phòng trống, hay chú sang ở cho vui. Chả là dạo ấy nhà tôi sang Mỹ lo cho cháu đi học theo diện bảo lãnh, tôi ở nhà một mình nên hay đáo sang nhà Thầy trò chuyện. Có lẽ những cuộc đàm đạo đầy tương đắc giữa tôi và thầy, cụ bà đều cảm nhận được và vui lây chăng. Cứ như vậy mấy chục năm nay tôi vẫn qua lại với Thầy, khi thì chuyện chuyên môn khi thì chỉ ghé chơi, đá sang vài chuyện vặt cùng quan tâm. Thực ra, Thầy không phải là người hay chuyện, ít quan tâm thế sự, chuyện riêng tư của người khác nên mọi chuyện cuối cùng cũng quay về chuyên môn. Mỗi lần sang nhà, việc đầu tiên tôi quan tâm là xem cụ đang đọc tài liệu gì để học lóm. Dường như lúc nào trên bàn Thầy đều thấy có sách hoặc tạp chí được mở sẵn ở chỗ đang đọc dở. Cái nếp đọc hằng ngày của thầy là thói quen của thế hệ Tây học đang làm công tác nghiên cứu, giảng dạy ở các trường đại học khiến tôi nhớ đến một số nhà khoa học nổi tiếng cùng thế hệ Thầy hoặc lớn hơn, có dịp được chứng giám. Chẳng hạn, nhiều lần có việc đến nhà giáo sư Trần Văn Giàu thì biết, cứ đúng 08.00 sáng, cụ ngồi vào bàn và viết, mỗi ngày phải viết cho được vài trang. Tác phong làm việc này trở thành mẫu mực, đáng làm gương cho những người làm khoa học thế hệ ngày nay noi theo. Chả vậy mà thế hệ vàng trong giảng đường đại học phía Bắc thập niên 50-60 thế kỷ trước, nhiều người uyên bác, tài giỏi, trở thành chuyên gia hàng đầu trên nhiều lĩnh vực của đất nước. Hầu như họ đều nổi danh ở độ tuổi 40 trở đi. Thường Thầy cho biết đang đọc gì đấy và tiện thể giới thiệu luôn cho tôi như một gợi ý, một định hướng bổ ích. Tôi và nhiều đồng nghiệp khác đã trưởng thành lên nhờ như vậy bên cạnh thầy. Có khi trao đổi cụ thể một vấn đề mới hoặc là nhận xét hay phản biện cho một học viên nào đó mà tôi và Thầy được phân công cùng hội đồng, hoặc hướng dẫn; có khi chỉ vài câu chuyện nào đó cùng quan tâm. Tất cả diễn ra trong tinh thần cởi mở, thẳng thắn, không hề ồn ào, không hề cương lên dù có khi bất đồng về quan điểm. Ngay cả khi phê phán, Thầy cũng thể hiện bằng âm lượng nhẹ nhàng, ôn tồn vừa phải. Tôi thì hay cao giọng, lớn tiếng. Hai thái cực trong trạng thái biểu cảm này lại được chia sẻ một cách ôn hòa. Điều đó có thể nói tinh thần dân chủ, bình đẳng trong học thuật là phẩm chất hiếm có ở Thầy và một số giáo sư đầu ngành của nước ta mà tôi được biết hoặc có dịp gần gũi. Gần thầy tôi học được điều này: thứ nhất, thái độ làm việc rất nghiêm cẩn, chặt chẽ trong tư duy, trong tận từng chi tiết. Tất nhiên chừng mực thôi vì tôi vốn phóng túng, khó theo các cụ lắm. Cho nên, đã không nhận thì thôi, còn khi đã nhận lời hướng dẫn hay phản biện, thậm chí làm chủ tịch hội đồng mà nhiều người cho rằng chỉ cần nghe rồi tập hợp ý kiến thì Thầy vẫn đọc kĩ, săm soi từng tý và có ý kiến tới nơi, tới chốn. Những ai có dịp dự hội đồng bảo vệ luận án tiến sĩ hoặc luận văn thạc sĩ đều thấy tác phong này của thầy. Thứ hai, công tâm, dân chủ trong đối thoại chuyên môn với bất kỳ đối tượng nào. Thông thường trước khi ngồi hội đồng, thể nào tôi cũng gặp Thầy có đôi lời nhận xét, đánh giá học viên để rà xem có đồng quan điểm không. Có chỗ đồng tình, có chỗ không đồng tình vẫn bảo lưu và ra hội đồng, ai nghĩ sao nói vậy, không dựa ý, lấy lòng, ngay cả khi tôi hay thầy phản biện hoặc hướng dẫn và ngược lại mà không hề tỏ ra khó chịu khi bị bác quan điểm. Có điều thú vị mà tôi chưa lý giải được, không hiểu sao, ngồi với thầy là ý tưởng khoa học tuôn ra một cách mạch lạc, táo bạo không gợn lên chút e dè. Thầy chú ý nghe. Chưa rõ, thầy hỏi lại, không hề bộc lộ tán thưởng hay chê bai. Với tôi thái độ ấy dường như là chất xúc tác, là khuyến khích, vừa là sức hút, khơi gợi đam mê. Hóa ra, Thầy nghe và đánh giá cả chứ không nghe kiểu xã giao. Thậm chí có lúc tôi đọc cho Thầy nghe bài của mình vừa được đăng. Thầy chăm chú nghe và bảo “khó nghe đấy”, ý rằng bài viết khó. Những nhà khoa học chân chính rất chịu nghe. Mãi sau này khi hướng dẫn tôi làm luận án tiến sĩ, Thầy gần như không góp ý gì về đề cương mà tôn trọng ý kiến và cách làm độc lập của tôi. Khi viết xong luận án, tôi trình Thầy xin bảo vệ. Thầy xem xong, chỉ bảo, viết thêm vài dòng ở phần cuối cho chặt chẽ. Tôi thêm ba trang, vừa tròn 200 trang luận án. Thầy cho bảo vệ ngay. Đến khi bảo vệ xong, Thầy chỉ nhận xét: “Hùng viết như đi xiếc trên dây”. Khen hay chê, không rõ nhưng chắc là Thầy đồng tình với cách viết có phần táo bạo, phóng túng, khác với kiểu tư duy vốn chặt chẽ, chuẩn xác của Thầy. Nghĩa là Thầy chấp nhận cái khác biệt, cái mới. Chỉ có nhà khoa học đích thực mới có thái độ này. Có lẽ vì vậy mà sau này, có lần thầy khuyên bảo: “Hùng nên viết ra, không thì uổng lắm, nhiều ý tưởng khoa học như vậy, cần lưu lại và truyền cho sinh viên. Tôi thầm cảm ơn thái độ tôn trọng mà thực chất là đánh giá của thầy. Đấy là cách động viên, khuyến khích, có thể là sự chia sẻ, tương giao chăng. Điều này rất hiếm thấy ở những người thường tự xem là cửa trên đối với học trò hay đồng nghiệp thua kém hơn. Một số anh em lớp trẻ đều cảm nhận như vậy về Thầy. Nhưng khá rạch ròi đấy. Ai đáng khuyến khích thì động viên, đề cao. Còn ai đi tìm kiếm chút giá trị ảo từ bằng cấp, Thầy thẳng thừng từ chối hoặc khuyên bảo nên dừng lại.

Có lần cháu nhà tôi ở Mỹ về, mang tặng Bác Diên mấy cuốn sách . Nhân thể, cháu táy máy dịch mấy trang triết học, lý luận văn học gì đấy, dù cháu học Vật lý, nhờ bác xem hộ. Ít hôm sau đưa cháu sang chơi, thấy bác Diên khoanh mấy chỗ bằng bút chì một cách cẩn trọng. Cháu tranh luận với bác và cuối cùng Bác đồng ý cách chuyển ngữ của cháu. Thậm chí còn hào phóng, chỉ vào giá sách ngồn ngộn bảo, cháu thích cuốn nào bác cho phép cháu lấy (biếu). Nếu không có thái độ tôn trọng khoa học, bình đẳng dân chủ chắc thầy không có cách ứng xử này. Đại loại như thế, tôi, và chắc nhiều đồng nghiệp khác đều được cư xử trong mối quan hệ tương giao với thái độ tôn trọng, tinh thần dân chủ như vậy của Thầy.

PGS. Chu Xuân Diên và TS. Hồ Quốc Hùng

2. Nhờ gần gũi vậy mới thấy phông kiến thức hàn lâm của Thầy rất rộng, hiểu đến nơi đến chốn. Không chỉ giới hạn trong lý thuyết Folklore mà cả lĩnh vực triết, lý luận văn học thịnh hành ở phương Tây, Nga thuộc hàng kinh điển xưa nay, Thầy đều nắm vững. Tiếc là thầy ít viết hay không thích phô diễn kiến thức nên ít người biết. Vốn tri thức Tây học này (Thầy thông thạo Pháp, Nga, Anh) tích lũy từ thời đi học. Đến nỗi sau này có những nhà khoa học nổi tiếng dịch một số tài liệu kinh điển, Thầy cho biết dịch sai nhiều chỗ với một thái độ khiêm nhường không phô trương. Thầy kể hồi đang là sinh viên năm thứ hai, đã cùng giáo sư Phùng Văn Tửu (cùng lớp) và vài người khác lập nhóm rồi dịch tác phẩm văn học kinh điển của thế giới. Đến nay, Thầy vẫn đặc biệt duy trì sự đam mê văn học cổ điển phương Tây. Tiếc rằng thiên hướng theo đuổi văn học phương Tây, lý luận bị ngưng lại khi giáo sư Đinh Gia Khánh giữ Thầy lại và bố trí vào phần văn học dân gian. Nhưng cũng nhờ vậy mà trong lĩnh vực văn học dân gian, cho đến tận bây giờ nhiều lý thuyết phương Tây thịnh hành, nhiều người tiếp xúc thấy mới nhưng với thầy quá quen thuộc. Cho nên nhiều giáo sư đầu ngành hiện nay cũng như đồng nghiệp trong cả nước, vốn là học trò của Thầy như giáo sư Lê Chí Quế, (Trường Đại học Tổng hợp Hà Nội, nguyên Chủ tịch Hội đồng chức danh chuyên ngành Văn học), GS Nguyễn Xuân Kính (nguyên Viện trưởng Viện văn hóa, Phó Chủ tịch Hội Văn nghệ dân gian Việt Nam), PGS. TS. Nguyễn Thị Huế (Viện Văn học) đều xem Thầy là chuyên gia hàng đầu về văn học dân gian ở nước ta. Có một kỷ niệm đáng nhớ, trong hội thảo khoa học kỷ niệm 100 năm ngày sinh giáo sư Nguyễn Đổng Chi (2015), bài thầy mở thêm cho tôi cách nhìn mới về khái niệm hiện thực trong cổ tích bằng luận giải sắc bén, tinh tế đầy tính triết học, vượt ra ngoài quan niệm phản ánh hiện thực một cách thô thiển. Tưởng là đơn giản nhưng qua trình bày của Thầy mới thấy cách nhìn về cái gọi là hiện thực phản ánh trong cổ tích có nhiều cấp độ hiểu và phần lớn nhầm lẫn, ngay với cả những người nghiên cứu kỳ cựu. Bài này được GS Nguyễn Huệ Chi đánh giá cao. Thầy cũng rất đồng cảm với tôi về hướng nghiên cứu bối cảnh mà với tôi rút ra từ trải nghiệm, còn với Thầy là tiếp cận trường phái của Mỹ từ sớm. Những bài viết kinh điển như vậy gợi nhiều suy nghĩ về cái gọi là thực tại trong văn học dân gian rất đáng để những người trong nghề tham khảo. Rất vui sau sự kiện này, bài Thầy và bài của tôi được chọn đăng trong số đặc biệt của tạp chí Nghiên cứu và phát triển (số 2- 2015). Thầy vẫn miệt mài đọc như vậy từ bao lâu nay, thường xuyên cập nhật cái mới, nghiền ngẫm cái cũ như một thú vui qua những sách kinh điển tiếng Anh, Pháp, Nga, nhiều cuốn đã ố vàng…

3. Những năm gần đây, các cháu, con thầy đưa Thầy về tận Nhà Bè để tiện chăm sóc. Vậy là hết qua lại với Thầy như mọi khi. Chắc Thầy buồn vì khoảng cách đi lại với bầu bạn, học trò trở nên hạn chế. Trước khi về Nhà Bè, Thầy đã chuyển ra ở chung cư cao cấp khu Tân Cảng. Tôi nhớ mấy lần sang nhà chơi, Thầy cứ loay hoay hỏi tôi đường từ đó đến Trường Đại học Khoa học xã hội - Nhân văn đi có gần không. Thực ra là gần và dễ đi hơn nhà cũ (Đặng Văn Ngữ - Phú Nhuận) đến trường. Có lẽ Thầy tính thêm khoảng đường mà tôi và nhiều học trò, bạn bè của Thầy buộc phải đi thêm để gặp thầy chăng. Biết thóp của tôi, có lần Thầy bảo “Hùng mê bạn bè”. Biết đâu không nói ra nhưng Thầy cũng đồng cảm, có nỗi âu lo khi vắng bạn. Nay khoảng cách đó còn xa hơn khi Thầy về Nhà Bè. Đúng là ngày mỗi thưa vắng đến với Thầy nhưng chắc mọi người vẫn luôn yêu thương, nghĩ đến Thầy lúc có dịp. Mấy lần tôi đưa lên Facebook hình ảnh chụp Thầy lúc đến thăm ở Nhà Bè thì học trò cũ của thầy tận Hà Nội như nhà nghiên cứu Lại Nguyên Ân, nhà nghiên cứu phê bình Ngô Thảo cũng đã ngoài 80, giáo sư Trần Ngọc Vương, phó giáo sư Nguyễn Thị Huế vào tuổi 70 và nhiều nữa khắp nơi đều bày tỏ nỗi vui khi thấy thầy còn khỏe. Những lúc vậy thấy vui lây cùng thầy. Mấy năm trước, giáo sư Trần Đình Sử vào công tác tại TP Hồ Chí Minh, trong lúc trà dư tửu hậu tâm sự với tôi, nhân nhắc đến Thầy, rất tâm đắc với nhận định của tôi: “GS Chu Xuân Diên là con người thanh khiết từ học thuật đến nhân cách”. Nếu vẽ lên một chân dung ngắn gọn về Thầy có thể thế này chăng: Âm thầm, lặng lẽ, không phô trương, là một khối năng lượng ngầm về học thuật, biết chia sẻ cảm thông và nguyên tắc, cẩn trọng trong khoa học, lịch lãm (kiểu Tràng An), biết tôn trọng người đối thoại, nghiêm cẩn trong đánh giá.

Nhìn Thầy như bậc chân tu, ít khi tham dự vào thế sự, chỉ chăm chút và tìm niềm vui trong chuyên môn. Không nồng nhiệt khi giao tiếp, ngay cả khen cũng rất kiệm. Thầy không khen tôi trước mặt, khi cần tán thưởng chừng mực. Nghe đâu với người khác Thầy nói điều tốt đẹp về tôi. Tôi cảm ơn tình tri ngộ ấy và rất áy náy khi chỉ và đang làm được hai trong ba điều Thầy khuyên: Hùng chịu khó ngồi chút thì tuyệt, ý bảo có thời gian đọc và nghiền ngẫm. Và hãy viết, truyền tải những ý tưởng cho sinh viên thế hệ sau, không thì tiếc lắm. Rất may tôi là người chịu nghĩ nên thực hiện được điều thứ nhất và thứ hai. Còn điều thứ ba Thầy khuyên không tiện nói ra đây…

Nhìn lại một chặng đường được gần thầy, đầy ngưỡng mộ và tiếp thu chút tinh hoa từ Thầy, thực sự có hiệu quả trong bước đường tu nghiệp của bản thân, tôi luôn tự nhủ: hãy gắng học thêm chút gì đó của Thầy khi còn có thể. Nay Thầy đã bước vào tuổi đại thượng thọ. Chúc gì đây. Chỉ xin nhắn với tất cả bạn hữu, học trò, những người yêu thầy rằng: Tôi mới gặp Thầy và được tâm sự như sau:

“Mình vẫn khỏe, ăn biết ngon, thích đi chơi với anh em, học trò, dù tai rất kém, uống chút gì đó. Vẫn đọc sách và thấy thú vị những quyển sách hay”.

Thầy ta thế là tiên còn gì!

Thành phố Hồ Chí Minh, 05/2023

Nguồn: Tạp chí Khoa học phổ thông số 36, ra ngày 8.9.2023

 

CHIA SẺ:
Ngày cập nhật: 19/10/2023

Bài viết liên quan