
Ảnh: Cổng Ngọ Môn, Huế
Phát huy truyền thống xem trọng biển đảo của dân tộc Việt, đặc biệt dưới thời các chúa Nguyễn, sau khi giành được vương quyền, các vị vua đầu triều Nguyễn đã rất ý thức được tầm quan trọng về cương giới lãnh hải của mình. Trong quá trình bảo vệ biển đảo, bên cạnh xây dựng một lực lượng thủy quân hùng mạnh, các vua đầu triều Nguyễn đã biết dựa vào chính những người ngư dân, dùng họ cùng hợp tác với quân đội để bảo vệ biển đảo.
Vua Gia Long là người hiểu hơn ai hết biển đảo quan trọng như thế nào đối với an ninh cũng như sự phát triển kinh tế của vương triều. Trước khi lên ngôi vua, ông đã có những năm tháng chiến đấu lênh đênh trên biển đảo. Vì vậy, ngay khi vừa mới lên ngôi, vua Gia Long đã ra dụ chiêu mộ dân để lập thành đội Hoàng Sa, nhằm dựa vào dân mà chủ yếu là ngư dân cùng với thủy quân của vương triều để kiểm soát vùng biển đảo hiểm trở nhưng đây tiềm năng này của vương triều. Gia Long năm thứ 2 [1803] “Lấy Cai cơ Võ Văn Phú làm Thủ ngự cửa biển Sa Kỳ, sai mộ dân ngoại tịch lập làm đội Hoàng Sa”[1]. Vua Gia Long đã thấy rõ được những mặt thuận lợi của ngư dân ở vùng Quảng Ngãi, họ chính là những con dân đã có truyền thống lâu đời được chính quyền chúa Nguyễn giao kiểm soát, khai thác vùng đảo Hoàng Sa và Trường Sa, nên họ am hiểu hơn ai hết vùng biển đảo này. Hoạt động của đội Hoàng Sa thường xuyên phối hợp cùng với thủy quân để xác định chủ quyền, kiểm soát biển đảo và tiến hành thăm dò đường biển “Sai thủy quân và đội Hoàng Sa đi thuyền ra Hoàng Sa để thăm dò đường thủy”[2]. Mặc dù nắm trong tay một quân đội hùng mạnh, sở hữu những chiến thuyền hiện đại của phương Tây, nhưng không vì thế mà vua Gia Long không xem trọng vai trò của ngư dân trong công cuộc bảo vệ và kiểm soát biển đảo. Năm 1819, một người Anh ký tên là H.P. đến Phú Xuân cho biết “bất cứ lúc nào nhà vua cũng có thể huy động thêm thuyền buồm và thuyền chài đi lại chi chít ngoài biển”[3]. Ở các địa phương ven biển, nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho dân sở tại bảo vệ biển đảo và vận chuyển hàng hóa, vua Gia Long cũng cho ra sức đóng các thuyền hiệu “Hạ lệnh cho các địa phương đóng thuyền hiệu, một chiếc cấp 20 quan tiền. (Bình Định, Quảng Nam, Nghệ An mỗi trấn 10 chiếc, Quảng Bình, Quảng Ngãi, Phú Yên, Bình Hòa, Bình Thuận đều 5 chiếc, Bắc Thành 29 chiếc)”[4].
Ghe Bàu Hội An-một trong những phương tiện đi biển phổ biển dưới triều Nguyễn. (Ảnh chụp tại Trung tâm Quản lý Bảo tồn Di Sản Văn hóa Hội An)
Tiếp theo Gia Long, vua Minh Mạng lại càng xem trọng vai trò của ngư dân trong bảo vệ biển đảo. Vua Minh Mạng là người có nhiều đạo dụ nhất trong các vua đầu triều Nguyễn về việc tăng cường huy động sức dân vào công tác kiểm soát và bảo vệ biển đảo. Không phải dưới triều vua Minh Mạng sức mạnh quân đội bị giảm sút mà chính trong thời này quân đội có những bước tiến mạnh mẽ, đặc biệt là thủy quân được trang bị thêm thuyền chiến bọc đồng, thuyền chạy bằng máy hơi nước, kính thiên lý đi biển, các loại súng cũng được trang bị hiện đại hơn... Trong hồi ký của một người rất am tường về thủy quân, tàu chiến là đại úy J.white người Mỹ, người đã có dịp nhìn thấy các chiến thuyền của triều Nguyễn, ông đánh giá cao và ngưỡng mộ về khả năng vận chuyển cũng như sự lạnh lẹ của các tàu thuyền triều Nguyễn “những thuyền bè của bản xứ với sự hoạt động lẹ làng của chúng đã làm chúng tôi tràn trề lòng ngưỡng mộ. Chúng đã chở được từ năm trăm tấn nhưng những chiếc chở được từ mười lăm đến ba mươi tấn đã thống trị số tàu này. Chúng rất dài, hai đầu thon mảnh và công lên một cách mạnh dạn ra khỏi mặt nước, cấu tạo này đã đem lại cho boong thuyền một chiều dài của tầng trên chiếm khoảng một phần ba của toàn bộ sống tàu, vả lại sống tàu cũng không xuống sâu lắm.
Điều làm cho đọc giả thú vị để biết rõ những vấn đề hàng hải, là cái mọng xoi hai bên sống thuyền để ghép hàng ván lòng thuyền của “galbord”, đã nằm gần phần bên dưới của sống thuyền; bởi vậy phần này đã có rất ít độ sâu ở dưới mạn súng tàu. Điều này sẽ khiến cho người ta nghĩ rằng những chiếc thuyền ấy chỉ lấy gió một cách khó khăn. Trường hợp này lại không phải như vậy, vì theo quan điểm này, người ta đã tạo chúng để bằng nếu không muốn nói là hơn đối với tất cả các loại thuyền bè trên thế giới” [5]. Cùng với đó, ông cũng mô tả một cảnh truy đuổi dành thắng lợi của thủy quân triều Nguyễn đối với một chiếc thuyền khác mà theo ông phỏng đoán thì lý do họ truy đuổi là do chở hàng lậu: “Vào buổi chiều chúng tôi còn thấy một chiếc thuyền lớn chở đầy người và có trang bị vũ khí từ Cần Giờ đi ra giương buồm và được chèo đến gần hướng của chúng tôi. Chúng tôi rất ngạc nhiên về việc này và chúng tôi đưa ra nhiều điều phỏng đoán. Cuối cùng, trong trí chúng tôi bỗng nảy ra rằng có lẽ người ta mang giấy thông hành của chúng tôi đến, và chúng tôi rất vui mừng với ý đó. Nhưng nỗi vui của chúng tôi bị tắt ngấm ngay tức khắc, vì chiếc thuyền buồm vượt qua chúng tôi và chạy về phía vịnh đã nói ở trên để truy đuổi một chiếc tàu đang trăng buồm chạy ra phía cửa sông, tàu này hình như đang nỗ lực để chạy thoát. Tuy nhiên, tàu bị bắt kịp và bị dẫn trở lại Cần Giờ giữa sự vui mừng thắng lợi của những người chiến thắng.
Vì không xác định được tại sao chiếc tàu ấy lại bị bắt, chúng tôi phỏng đoán rằng tàu ấy đã chở hàng lậu”[6]. Sức mạnh của thủy quân là vậy, nhưng không vì thế mà nhà vua Minh Mạng quên đi vai trò của ngư dân trong hoạt động bảo vệ biển đảo. Nhà vua tiếp tục dựa vào ngư dân để cùng với thủy quân của vương triều bảo vệ biển đảo, Minh Mạng năm 1820, ban Dụ cho thủ ngự sở Phú quốc: “cho dân các ấp sở ấy, quy lập làm 10 đội. Mỗi đội điều bỏ của riêng, đóng một chiếc thuyền vượt biển hạng lớn, sà ngang hạn từ 11 thước trở lên và 2 chiếc thuyền hạng nhỏ. Nhà nước cấp cho khí giới để qua lại Tuần phòng giặc biển”[7]. Nhằm phát huy tốt nhất vai trò làm chủ biển đảo của ngư dân, vua Minh Mạng tiếp tục ra Dụ để cung cấp bổ sung cho những địa phương ven biển, hải đảo thêm thuyền và vũ khí cần thiết để cho ngư dân có thể tự bảo vệ mình và biển đảo của vương triều. Minh Mạng năm thứ 15 [1834] dụ Bộ Binh rằng “Các đảo thuộc hải phận các địa phương, có nhiều nhân dân ở. Trước giờ Nhà nước chưa cấp phát cho thuyền và khí giới. Một khi có giặc biển nhân sơ hở, đến cướp bóc, thì họ không có gì để đề phòng, đánh đuổi. Nay phải truyền dụ cho tổng đốc, tuần phủ, bố chính và án sát các tỉnh ven biển, xét xem những hòn đảo nào có dân ở thuộc về hạt mình, thì sức sai sửa sang chỉnh đốn những thuyền đánh cá đi thực mau lẹ, số dân nhiều thì 3 chiếc, ít thì 2 chiếc, mỗi thuyền chứa được độ trên dưới vài chục người, phí tổn bao nhiêu, Nhà nước sẽ trả. Rồi liệu cấp phát cho trường thương, súng điểu sang và thuốc đạn, khiến họ đi tuần tiễu. Nếu gặp giặc biển, thì một mặt đem nhau chống đánh, một mặt ruổi thuyền đi báo để khỏi chậm trễ lỡ việc”[8].
Tàu khai thác hải sản của ngư dân Quảng Bình hiện nay
Những vua đầu triều Nguyễn luôn thấy được vai trò quan trọng của ngư dân trong hoạt động bảo vệ biển đảo, họ biết huy động sức mạnh từ nhân dân để tuần thám nhằm tăng cường tính hiệu quả. Những ngư dân hàng ngày ở trên biển, trên đảo nên việc phát hiện giặc cướp, “thuyền lạ”... cũng nhanh chống và thuận lợi hơn so với thủy quân đi tuần. Thủy quân đi tuần thì có giờ và theo lịch trình. Đôi khi họ mới đi tuần qua, giặc cướp, “tàu lạ” lại xuất hiện, còn những ngư dân, họ làm việc hàng ngày, thậm chí hàng giờ trên biển đảo, trở thành những người lính đầu tiên đương đầu với giặc cướp và phát hiện “tàu lạ”. Thấu hiểu được điều đó nên gần như hàng năm vua Minh Mạng luôn ra dụ để dụng sức dân vào hoạt động bảo vệ biển đảo. Minh Mạng năm thứ 16 [1835], Dụ rằng: “các tỉnh có hải phận, đều đóng 2, 3 chiếc thuyền nhanh nhẹ, và sai nhân dân các đảo sửa chữa thuyền đánh cá, liệu cấp khí giới để đi tuần thám.
Các quan địa phương ở ven biển liệu trích lính ở tỉnh, chia ngồi vào thuyền nhanh ra biển đi tuần thám, và thông sức cho nhân dân sở tại hết lòng đề phòng do thám. Nếu gặp thuyền giặc, thì lập tức hợp sức đánh dẹp” [9].
Ngư dân là những người luôn coi biển đảo là nhà, là quê hương, nên họ ra sức để bảo vệ, điều này giúp ích rất lớn cho vương triều trong các hoạt động kiểm soát và bảo vệ biển đảo. Các cư dân vùng ven biển và trên các đảo họ sống với biển nên rất giỏi về biển, từ đường đi cho đến quen từng con sóng, sức gió, hướng gió và thủy triều lên xuống của biển cả. Cùng với đó là những bãi cát ngầm, đá ngầm ẩn giữa biển cả thì chỉ có kinh nghiệm đi biển hàng trăm năm của hàng chục thế hệ của ngư dân được đúc rút rồi truyền lại từ đời này sang đời khác mới giúp tránh được những nguy cơ làm vỡ thuyền, mắc cạn giữa biển. Minh Mạng năm thứ 17 [1836], Bộ Công tâu nói “Cương giới mặt biển nước ta có xứ* Hoàng Sa rất là hiểm yếu. Trước kia, đã phái vẽ bản đồ mà hình thế nó xa rộng, mới chỉ được 1 nơi, cũng chưa rõ ràng. Hằng năm, nên phái người đi dò xét cho khắp để thuộc đường biển. Xin từ năm nay trở về sau, mỗi khi đến hạ tuần tháng giêng, chọn phái biền binh thuỷ quân và vệ Giám thành đáp 1 chiếc thuyền ô, nhằm thượng tuần tháng hai thì đến Quảng Ngãi, bắt 2 tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định thuê 4 chiếc thuyền của dân, hướng dẫn ra đúng xứ Hoàng Sa”[10]. Trong hoạt động kiểm soát, khai thác quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa ngư dân vùng biển Quảng Ngãi, Bình Định đóng vai trò then chốt, họ là những người đi đầu làm hướng dẫn cùng với thủy quân triều Nguyễn để kiểm soát vùng đảo xa xôi này của vương triều. Vai trò quan trọng của ngư dân được thể hiện rõ khi triều Nguyễn sai phái người ra Hoàng Sa thì những dân phu vẫn chiếm phần đông hơn so với các thành phần khác, tờ châu bản ngày 13 tháng 7 năm Minh Mạng thứ 18 (1837) cho biết thành phần đi khảo sát quần đảo Hoàng Sa gồm 22 binh đinh, 20 viên Thủy sư, 2 viên Giám thành và 31 dân phu” [11]. Các ngư dân đóng một vài trò rất quan trọng trong việc cung cấp thông tin cho hoạt động vẽ bản đồ vùng biển đảo, đo đạc thủy trình…. Họ là một trong những người có công rất lớn trong việc cung cấp thông tin để Bộ công biên ra cuốn sách Hải trình tập nghiệm (sách chia loại biên thành tập, chia làm 4 mục : 1 là phong vũ tổng chiêm, 2 là hành thuyền tỵ kỵ, 3 là tạo thuyền tỵ kỵ, 4 là vãng sự tập nghiệm, gọi là sách Hải trình tập nghiệm) [12] dưới triều vua Minh Mạng.
Biển cả luôn ẩn dấu những nguy hiểm tiềm tàng, ngoài giặc cướp gây hại thì còn là tai nạn của sóng gió, bão tố... Biết được sự nguy hiểm mà biển cả có thế đưa đến cho người dân, cũng như quan quân bảo vệ vùng biển đảo, nhằm làm cho họ yên tâm tiếp tục bám biển, vua Minh Mạng năm thứ nhất [1820], Dụ rằng “Nay đường biển gian nan, hiểm nghèo, sống gió nổi lên không lường trước được. Gần đây các quan quân và nhân dân, hoặc đi công tác, hoặc đi buôn bán mạo muội vào chỗ hiểm nghèo, nơi biển sâu, đều là sự bất đắc dĩ. Hoặc ngẫu nhiên gặp nạn sóng gió, còn sống thì không nơi nương dựa, mà chết thì ai là người chôn cất. Trẫm rất lấy làm thương xót, nên truyền cho các quan địa phương giữ các cửa bể, phải dự trữ tiền gạo phòng khi có người gặp nạn sóng gió thì chiếu theo công tư phân hạng mà cấp phát” [13]. Việc quan tâm đến đời sống nhân dân là vấn đề rất quan trọng, để khi có biến cố xảy ra hay có những việc cần kíp thì dựa vào dân để sai phái, khi đó lòng trung của dân với nước với vương triều được tăng lên. Đặc biệt là trong hoạt động bảo vệ lãnh hải biển đảo, nơi mà nguồn lợi mang lại cho người dân cũng nhiều nhưng nguy cơ cũng không ít. Ví như đội Hoàng Sa, trước khi các dân binh thực thi nhiệm vụ đi ra các đảo Hoàng Sa, Trường Sa họ đều được làm lễ tế sống, gọi là “Lễ khao lề thế lính Hoàng Sa” tại đình làng. Người ta tin rằng làm lễ như vậy để những hình nộm được làm bằng khung tre và dán giấy ngủ sắc kia có thể gánh chịu các tai ương mà biển cả mang lại, để cầu mong cho những người dân binh Hoàng Sa bình yên trở về.
Vua Thiệu Trị tiếp nối truyền thống luôn xem trọng biển đảo và huy động sức dân vào công tác bảo vệ biển đảo. Nạn hải phí, cướp biển gần như là vấn nạn xuyên suốt dưới triều Nguyễn, thời vua Thiệu Trị cũng không phải ngoại lệ. Nhà vua đã liên tục trong các năm phải ra chỉ dụ thường xuyên cho quan quân ra sức tiểu trừ giặc biển. Ví như Thiệu Trị năm thứ 2 (1842) “Sai biền binh đạo quân thuỷ chia đi 2 chiếc thuyền hiệu An Hải, Tĩnh Hải và 2 chiếc ô thuyền ra tuần hành trên các mặt biển Nam, Bắc. Lại truyền Chỉ các tỉnh từ Thừa Thiên vào Nam đến Bình Thuận, ra Bắc đến Quảng Yên, đều phải nghiêm sức cho những đồn đóng các bến trong hạt cùng với những thuyền đã phái đi tuần, xét theo phận biển, chia đi tuần phòng để bắt giặc cướp”[14]. Bên cạnh đó nhà vua còn cho quan quân phối hợp với ngư dân để tiếp tục xác lập và bảo vệ phần lãnh hải của vương triều.
Do đặc thù vùng biển đảo thường xuyên có cướp biển diễn ra, làm cho không những tình hình của vương triều bị bất ổn, mà cuộc sống của người dân, đặc biệt là ngư dân, dân thuyền buôn và kể cả là thuyền công vận chuyển của vương triều gặp rất nhiều trở ngại. Chính vì vậy, các vua đầu triều Nguyễn cũng đã trang bị tàu thuyền, vũ khí cũng như sức cho ngư dân để cùng tiến đánh giặc cướp. Quân đội triều Nguyễn đã có sự hổ trợ đắc lực của nhân dân. Dưới triều vua Tự Đức, nhà vua vẫn tiếp tục xem trọng vai trò của ngư dân trong hoạt động bảo vệ biển đảo, vì vậy đã huy động được những người dân quả cảm trong việc đương đầu với cướp biển. Ví như Nguyễn Mậu Kiến, khi ông chưa làm quan thì đã cùng với nhân dân chống lại sự tàn ác của bọn phỉ biển “những năm 1848 - 1850 (thời Tự Đức), bọn phỉ từ biển Đông tràn vào vùng Tiền Hải, Trực Định phủ Kiến Xương càn quét đốt phá, hãm hiếp giết người rất tàn bạo. Ông đã xin chính quyền được tổ chức huấn luyện, cho dân binh tráng dẹp. Ông đã nghiên cứu việc đi lại của chúng, tổ chức phục kích diệt gọn khi chúng tập kết ở ngã ba sông Ngái”[15]. Tiếp đó, năm 1851 Binh Bộ tâu: “Tổng Hải An là Phan Đình Thỏa trình rằng. Tên ấy đóc suất 6 chiếc thuyền nhẹ và hơn 80 dân phu ra biển đuổi theo bọn cướp, thuyền bọn cướp lui chạy”[16]. Năm 1873, sau khi thực dân Pháp chiếm lấy hết các tỉnh Nam Kỳ, dù đang bận với việc thương thuyết với Pháp nhằm lấy lại đất đã mất nhưng vua Tự Đức vẫn cho thấy sự quan tâm, chú trọng về hoạt động phối hợp giữa ngư dân với quân đội để tiểu trừ cướp biển biển. Do các loại tàu thủy bọc đồng và tàu chiến đi tuần đều chậm chạp, tới khi sai phái không thể nhanh chống được nên vua Sắc cho Bộ binh, dụ sai các tỉnh có phận biển khuyên bảo dân ven biển trong hạt tình nguyện đóng thuyền quyên nộp, theo kiểu mẫu nào cho nhẹ và nhanh, liệu dài rộng hơn, cần phải để được các cỗ súng Phách sơn, Quá sơn, chiểu theo lệ quyên hậu thưởng cấp cho; cửa biển lớn cần phải trên dưới 10 chiếc, cửa biển nhỏ 5 - 3 chiếc, liệu chọn dân ở ven biển cận tiện chia bổ, hoặc vài trăm người, hoặc trên dưới 100 người, vừa đủ làm việc ở thuyền, đặt ra đầu mục cai quản huấn luyện tập cấp cho súng và khí giới, lúc có việc thì sai phái, lúc không việc thì làm ăn. Bộ phải tuân theo nghĩ định cho chu đáo ổn thoả, phúc tâu lên để thi hành [17]. Nhưng do dân ven biển không đủ sức để đóng các loại thuyền này nên một số tỉnh quyên tiền lại để đóng thuyền. Đây là hành động thể hiện vua Tự Đức rất xem trọng sức ngư dân trong việc bảo vệ vùng biển đảo. Mặc dù ông đã thất bại trong công cuộc bảo vệ vương triều trước thực dân Pháp từ phía biển, một kẻ thù với trang thiết bị kỹ thuật chiến tranh hiện đại, cùng với đội quân xâm lược nhà nghề. Nhưng trước đó vua Tự Đức làm rất tốt hoạt động bảo vệ biển đảo. Vua Tự Đức đã thể hiện được người chủ đất nước luôn xem trọng biển đảo và biết chú trọng sức dân vào hoạt động bảo vệ biển đảo. Nhà vua vẫn tiếp tục dựa vào dân để làm kế vẹn toàn trong hoạt động bảo vệ biển đảo, điều đó mang lại hiệu quả đối với việc bảo vệ biển đảo trước cướp biển và bọn buôn lậu lúa gạo, thuốc phiện, cũng như kiểm soát một phần các loại thuyền nước ngoài đi vào hải phận của vương triều.
Bên cạnh việc trang bị vũ khí và thuyền bè cho ngư dân để phụ vào việc phòng vệ và tiểu trừ giặc biển, thì các vua triều Nguyễn còn huy động nhân dân để tiến hành lập các làng ở những nơi hoang vu ven biển và trên các đảo, xem đó là phương kế giữ nước, bảo vệ biển đảo vẹn toàn. Ở tỉnh Nam Định triều Nguyễn đã tiến hành cho khai phá lập làng ở ven biển, nhằm tạo ra vốn đất sử dụng cho người dân vừa biến những làng mạc này thành những đồn bảo để bảo vệ vùng ven biển, triệt phá những chỗ giặc cướp thường hay lợi dụng vào địa hình hiểm yếu để tụ tập làm sào huyệt của mình. Minh Mạng năm thứ 9 (1828) “Bắt đầu đặt huyện Tiền Hải thuộc phủ Kiến Xương, Nam Định. Một dải Tiền Châu liên tiếp bãi biển. Trước kia cây cỏ rậm rạp, bọn cướp hay tụ họp ở đấy, không ai dám đến gần. Đã có câu nói "ai dám đến đùa quấy ổ giặc mà chơi". Lĩnh Dinh điền sứ Nguyễn Công Trứ đến nơi, chiêu tập phủ dụ lòng người mới yên. Bèn đem đất Tiền Châu cùng đất đối ngạn bên tả bên hữu đo đạc đất hoang chia cấp cho dân nghèo, thành 14 lý, 27 ấp, 20 trại, 10 giáp, số đinh được hơn 2.350 người, số ruộng được hơn 18.960 mẫu (Lý 600 mẫu, ấp 400 mẫu, trại 200 mẫu, giáp 120 mẫu. Cứ 100 mẫu trừ đình chùa thổ trạch đất mạ, đất già 30 mẫu, còn thành điền 70 mẫu. Trong số 15 mẫu thì định làm nhất đẳng một mẫu, nhị đẳng 2 mẫu, tam đẳng 12 mẫu)”[18]. Đảo Chàng Sơn thuộc tỉnh Quảng Yên (Quảng Ninh ngày nay) tương đối rộng, bao gồm nhiều đảo nhỏ, cấu tạo phức tạp, là nơi có địa hình hiểm trở, ở giữa biển, tách biệt với tỉnh thành nên bọn giặc cướp lấy một số nơi ở đây làm sào huyệt của mình. Để đối phó với tình trạng đó, năm 1832 Tổng đốc Hải An Nguyễn Công Trứ đã xin với triều đình lập một làng ở trên đảo, vốn dĩ người dân ở đây chủ yếu là người Thanh qua đây xin với triều Nguyễn để sinh sống và xin được làm con dân của vương triều “thành lập làng xã, cắt cử người cai quản. Làng đầu tiên ở đây được Nguyễn Công Trứ đặt là làng Hướng Hóa. Ít lâu sau, nhà Nguyễn cho thu thuế và lập đồn Hướng Hóa canh phòng giặc biển”[19]. Không phải cứ thành cao, hào sâu mới phòng giữ được lãnh thổ. Lập làng, đưa dân đến ở cũng là một biện pháp rất tốt để bảo vệ, ở đâu có dân cư sinh sống ở đó có những thành lũy vững chắc, có những trạm cấp báo hữu hiệu và có những người lính quả cảm có thể sẵn sàng hy sinh để bảo vệ xóm làng, vương triều. Đó là rất nhiều trường hợp mà các vua đầu triều Nguyễn dựa vào dân, huy động nhân dân mà chủ yếu là ngư dân vào công tác bảo vệ biển đảo.
Những vua đầu triều Nguyễn đã kết hợp rất tốt giữa quân đội và nhân dân (chủ yếu là ngư dân) trong hoạt động tuần thám, bảo vệ biển đảo, điều này mang lại hiệu quả cao, ngoài ra còn giáo dục cho nhân dân thấy được tầm quan trọng của biển đảo đối với cuộc sống người Việt như thế nào. Hơn nữa, giáo dục cho họ thấy được ý nghĩa chiến lược của biển đảo đối với an ninh của vương triều. Cho người dân biết họ có một vai trò rất quan trọng, được triều đình đánh giá cao trong việc đóng góp vào sự bình yên của biển đảo. Từ sự nhận thức đó mọi người sẽ cùng nhau ra khơi và cùng với triều đình kiểm soát vùng biển đảo thuộc về mình.
Nhân dân mà chủ yếu là ngư dân từ vùng đất Quảng Yên (Quảng Ninh) đến Hà Tiên ( hiện nay bao gồm cả tỉnh Kiên Giang và Cà Mau) đều được huy động để bảo vệ vùng biển đảo của tỉnh mình quản lý. Các vua đầu triều Nguyễn đã ban lệnh cấp thưởng cho những ai bắt được cướp biển giao nộp cho quan lại. Trong quá trình truy đuổi, tiêu diệt bọn giặc cướp, các dân phu có công đều được triều đình khen thưởng “bọn lý dịch dân phu chém được 9 đứa cướp cứ mỗi tên cướp thưởng 10 quan tiền”[20]. Công lao bảo vệ sự bình yên biển đảo của dân phu luôn được triều đình ghi nhận “Những dũng sĩ chư việc giết bọn cướp ấy cho thưởng chung 50 quan tiền. Còn tên chết đuối cấp 3 quan tiền, 4 tên bị thương nhẹ mỗi tên cấp 1 quan để tỏ lòng thương dân”[21]. Bên cạnh ban thưởng cho dân sở tại của vương triều thì những người nước ngoài có công tiêu diệt cướp biển cũng được triều Nguyễn ban thưởng không kể người đó thuộc nước nào, miễn có công bắt giặc cướp thì đều được thưởng. Trong cuộc truy quét bọn cướp biển, người nước Thanh là Trần Quý bắt đem nộp và được vua triều Nguyễn ban thưởng “Giặc biển ở Bắc Thành là Lý Công Đồng lại họp đảng nổi cướp ở ngoài hải phận Nghệ An. Vua dụ sai Trấn thủ Thanh Hoa là Ngô Văn Vĩnh, Phó thống thập cơ Uy thắng thuộc Hậu quân Bắc Thành là Phan Bá Hùng, đều lĩnh binh thuyền đi tuần biển. Nghệ An, Ninh Bình cũng phái lính đi hội tiễu. Lý Công Đồng trốn ẩn ở núi Chàng thuộc Quảng Yên. Người nước Thanh là Trần Quý bắt được đem nộp. Việc tâu lên. Thưởng cho Trần Quý 100 lạng bạc. Đồng thì xử lăng trì, bêu đầu đưa đi rao ở các địa phương ven biển thuộc Nam Định, Hải Dương, Quảng Yên”[22]. Ngoài việc được khen thưởng khi bắt được cướp biển thì các ngư dân khi tham gia vào công tác bảo vệ biển đảo, triều Nguyễn còn cho họ một số đặc quyền ngoài việc được cung cấp thuyền và vũ khí ra thì họ còn được miễn thuế, chu cấp một số nhu yếu phẩm như gạo, thực phẩm ví như đội Hoàng Sa, Bắc Hải thì được cung cấp gạo và một số nhu yếu phẩm cần dùng khi đi tuần tra.
Các vua đầu triều Nguyễn đã làm rất tốt công tác huy động nhân dân, mà chủ yếu là ngư dân các tỉnh ven biển đảo tham gia vào hoạt động bảo vệ biển đảo của vương triều, điều đó góp phần mang lại hiệu quả rất cao, như trong công tác xác lập, tuần tra, kiểm soát và bảo vệ biển đảo trước cướp biển, buôn lậu và thuốc phiện. Ngày nay ngư dân của nước Việt bên cạnh hoạt động khai thác tài nguyên biển thì hoạt động bảo vệ lãnh hải vẫn được đặc biệt chú trọng. Hơn nữa hiện nay du lịch biển là một trong những thế mạnh của nước Việt Nam, vì vậy các cấp chính quyền, các công ty du lịch lữ hành cùng phối hợp một cách tốt nhất với ngư dân, tạo ra những sản phẩm du lịch đọc đáo để góp phần thu hút khách du lịch tới nước Việt nhiều hơn nữa. Đó cũng là một trong những cách tăng thu nhập ổn định cho ngư dân để họ tiếp tục bám biển, sống với biển đảo.
Chú thích
1, 18, 22. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 2, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, tr. 566; tr. 778-779; tr. 733.
2, 4. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 1, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, tr. 922; tr. 952.
3. Nguyễn Phan Quang (2002), Việt Nam thế kỷ XIX (1802 – 1884), Nxb TpHCM, tr. 24.
5, 6. P.Midan (2010), Những người châu Âu đã thấy Huế xưa: John White, in trong Những người bạn của Cố đô Huế (BAVH), tập XXIV, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr.224; tr.232.
7, 9. Nội các triều Nguyễn (2004), Khâm định Đại Nam hội điển sự lệ, tập 5, Trần Huy Hàn – Nguyễn Thế Đạt dịch, Nxb Thuận Hóa, Huế, tr. 424; tr.427
8, 10. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 4, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, tr. 108; tr.867.
(*) Nguyên chép là Hoàng sa xứ, thực tế đáng phải chép là Hoàng Sa
11. Bộ Ngoại Giao, Ủy ban Biên giới Quốc gia (2013), Tuyển tập các Châu bản triều Nguyễn về thực thi chủ quyền của Việt Nam trên hai quần đảo Hoàng Sa và Trường Sa, Nxb Tri thức, Hà Nội, tr.153.12
12, 14. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 5, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, tr.429; 347.
13. Quốc sử quán triều Nguyễn (2010), Minh Mệnh Chính Yếu, Nxb Thuận Hóa, tr. 217-218.
15. Nguyễn Thanh Vân (1992), “Vài suy nghĩ về Nguyễn Mậu Kiến”, tạp chí NCLS,(3), Tr. 9.
16. Châu bản triều Nguyễn (mục lục), Bản chụp từ bản thảo viết tay, Triều Tự Đức, tập 31, Tài liệu đề tài cấp nhà nước KX – ĐL: 94 – 16, tr. 521-522.
17. Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam thực lục, tập 7, bản dịch của viện sử học, tái bản lần thứ nhất, Nxb Giáo dục, tr.1382.
19. Tìm hiểu về biển, đảo Việt Nam (2009), Nxb Quân đội nhân dân, tr. 74.
20. Châu bản triều Nguyễn (mục lục), Bản chụp từ bản thảo viết tay, Triều Tự Đức, tập 31, Tài liệu đề tài cấp nhà nước KX – ĐL: 94 – 16, tr. 521-522.
21. Châu bản triều Nguyễn (mục lục), Bản chụp từ bản thảo viết tay, Triều Tự Đức, tập 31, Tài liệu đề tài cấp nhà nước KX – ĐL: 94 – 16, tr. 521-522.
Nguồn: Đoàn Anh Thái





