
I. TỔNG QUAN
1. Nhằm triển khai kế hoạch đảm bảo chất lượng dạy và học hàng năm, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh (ĐH KHXH&NV, ĐHQG-HCM) đã thu thập ý kiến phản hồi của sinh viên (SV) về các môn học thực dạy trong học kì II (HKI) năm học 2023-2024 theo đề xuất của khoa hoặc chưa được khảo sát trước đây hoặc đã khảo sát trước năm học 2019-2020.
2. Phiếu khảo sát (PKS) môn học được rà soát, chỉnh sửa và nghiệm thu năm 2021, với sự điều chỉnh, bổ sung một số nội dung phù hợp để sử dụng đối với các môn học được giảng dạy trực tuyến (trong phần lớn hoặc toàn bộ thời lượng của môn học). PKS gồm có 22 câu hỏi đóng với 4 nội dung chính: (1) thông tin về SV trả lời PKS, (2) phản hồi của SV về môn học, (3) mức độ hài lòng của SV về hoạt động giảng dạy của giảng viên (GV) và (4) mức độ hài lòng chung của SV về môn học.
Các câu hỏi đóng sử dụng thang đo Likert 5 mức độ, với mức độ tăng dần từ 1=hoàn toàn không đồng ý/hài lòng đến 5=hoàn toàn đồng ý/hài lòng. Bên cạnh đó, PKS còn có 1 câu hỏi mở về những đề xuất cụ thể cho việc nâng cao chất lượng giảng dạy môn học để SV có thể đóng góp thêm những ý kiến khác nếu có (xem Phụ lục IV).
3. PKS được thu thập thông qua công cụ Google form và phần mềm khảo sát trực tuyến của Trường. Để đảm bảo giá trị tham khảo của các thông tin phản hồi của SV, Phòng Bảo đảm chất lượng chỉ tổng hợp, phân tích dữ liệu đối với các lớp học phần có tỉ lệ phiếu thu về từ 40% trở lên; cụ thể là 141 môn học, do 145 GV phụ trách giảng dạy, tương ứng với 4,896 lượt SV thuộc 183 lớp học phần (Bảng 1).
Bảng 1. Thống kê số lượng môn học, giảng viên được khảo sát và xử lý dữ liệu trong học kỳ II năm học 2023-2024

II. KẾT QUẢ KHẢO SÁT
1. Nhận xét chung của sinh viên về môn học
Trong phần này, SV thể hiện mức độ đồng ý đối với các phát biểu về môn học qua thang đo Likert 5 mức độ, với mức độ đồng ý tăng dần từ 1 đến 5. Theo đó, các khoảng giá trị trung bình được xác định như sau:
- Hoàn toàn không đồng ý = Trung bình từ 1.00 đến 1.80;
- Không đồng ý = Trung bình từ 1.81 đến 2.60;
- Phân vân = Trung bình từ 2.61 đến 3.40;
- Khá đồng ý = Trung bình từ 3.41 đến 4.20;
- Hoàn toàn đồng ý = Trung bình từ 4.21 đến 5.00
Biểu đồ 1. Nhận xét chung của SV về môn học
Kết quả khảo sát được tổng hợp trong Biểu đồ 1 cho thấy, SV thể hiện sự đồng ý cao hơn so với đợt khảo sát HKII năm học 2022-2023 ở tất cả các nội dung được đề cập trong phiếu khảo sát. Trong đó, nội dung có mức độ đồng ý thấp nhất là “Khối lượng học tập (lượng kiến thức, kỹ năng…) và thời lượng (số tín chỉ) của môn học là tương thích với nhau”; được đồng ý cao nhất là nội dung “Nội dung môn học phù hợp với CĐR của môn học” (Biểu đồ 1).
2. Phản hồi của sinh viên về hoạt động giảng dạy của giảng viên phụ trách môn học
Trong phần này, SV thể hiện mức độ hài lòng đối với các hoạt động giảng dạy qua thang đo Likert 5 mức độ, với mức độ hài lòng tăng dần từ 1 đến 5. Theo đó, các khoảng Trung bình được xác định như sau:
- Hoàn toàn không hài lòng = Trung bình từ 1.00 đến 1.80;
- Không hài lòng = Trung bình từ 1.81 đến 2.60;
- Phân vân = Trung bình từ 2.61 đến 3.40;
- Khá hài lòng = Trung bình từ 3.41 đến 4.20;
- Hoàn toàn hài lòng = Trung bình từ 4.21 đến 5.00.

Biểu đồ 2. Nhận xét của SV về hoạt động giảng dạy của GV
Từ kết quả khảo sát được thể hiện trong Biểu đồ 2, có thể thấy rằng tất cả các nội dung được đánh giá ở mức “hoàn toàn hài lòng”. SV thể hiện sự hài lòng khá tương đồng với đợt khảo sát HKII năm học 2022-2023 ở tất cả các nội dung được đề cập trong PKS.

Bảng 2 dưới đây cho thấy, tỉ lệ GV được đánh giá ở mức “hoàn toàn hài lòng” trong đợt khảo sát HKII năm học 2023-2024 là 84.1%, thấp hơn so với đợt khảo sát HKII năm học 2022-2023 (87.4%). Trong đó, ở đợt khảo sát này, có 2 GV (chiếm 1%) được phản hồi ở mức trung bình dưới 3.41 (tương ứng với mức “hoàn toàn không hài lòng” và “chưa hài lòng”).
Bảng 2. Tổng hợp đánh giá hoạt động giảng dạy của GV được khảo sát

3. Sự hài lòng chung của SV đối với môn học
Sự hài lòng chung của SV đối với môn học là hoàn toàn hài lòng với trung bình = 4.36, tương đương với kết quả khảo sát trong HKII năm học 2022-2023 (trung bình = 4.36). Bảng 3 dưới đây tổng hợp sự hài lòng của SV về môn học - xét theo lớp học phần.
Bảng 3. Sự hài lòng chung của SV về môn học

Bảng 3 cho thấy, tỉ lệ lớp học phần mà trong đó SV đánh giá hoạt động giảng dạy của GV ở mức “hoàn toàn hài lòng” trong đợt khảo sát HKII năm học 2023-2024 là 88%, cao hơn so với đợt khảo sát HKII năm học 2022-2023 (75.8%).
Qua phân tích tương quan, có thể nhận định rằng, sự hài lòng chung của SV về môn học có tương quan khá chặt chẽ với sự hài lòng đối với các nội dung cụ thể của hoạt động giảng dạy của GV. Trong đó:
- Sự hài lòng chung của SV có tương quan cao nhất với các nội dung: “Phương pháp, hình thức truyền tải kiến thức, nội dung môn học của GV” và “Lượng kiến thức, kỹ năng được GV cung cấp theo CĐR của môn học”;
- Sự hài lòng chung của SV có tương quan thấp nhất với các nội dung: “Việc GV sử dụng các phương tiện, công cụ, thiết bị, phần mềm dạy học” và “Việc GV giải đáp các thắc mắc của SV trong hoặc ngoài giờ học”.
4. Phản hồi của sinh viên qua câu hỏi mở
Tổng cộng có 262 lượt ý kiến đề xuất của SV qua câu hỏi mở, trong đó có:
- 29 lượt ý kiến đề xuất liên quan đến đặc điểm chung của môn học,
- 9 lượt ý kiến đề xuất liên quan đến việc sắp xếp lịch học,
- 15 lượt ý kiến đề xuất liên quan đến tài liệu học tập của môn học,
- 150 lượt ý kiến đề xuất liên quan đến hoạt động giảng dạy của GV,
- 26 lượt ý kiến đề xuất liên quan đến cơ sở vật chất, trang thiết bị phục vụ môn học,
- 33 lượt ý kiến đề xuất liên quan đến kiểm tra, đánh giá kết quả học tập của môn học.
Bảng 4 dưới đây tổng hợp các nội dung đề xuất của SV được đề cập nhiều nhất (có nhiều lượt đề xuất nhất).
Bảng 4. Các ý kiến đề xuất của SV được đề cập nhiều nhất

Tài liệu đính kèm
Bài viết liên quan

Tập huấn đợt 3 về thiết kế, xây dựng và đo lường chuẩn đầu ra học phần, chương trình đào tạo

Hoàn thành đợt đánh giá ngoài AUN-QA hai chương trình đào tạo Cử nhân Văn hóa học và Cử nhân Văn học



