|
VNU LogoHCMUSSH Logo

Âm nhạc dân tộc trong bối cảnh hiện nay: Một tiếp cận Nhân học văn hoá

04/08/2025
CHIA SẺ:
Âm nhạc dân tộc trong bối cảnh hiện nay: Một tiếp cận Nhân học văn hoá

ÂM NHẠC DÂN TỘC TRONG BỐI CẢNH HIỆN NAY: MỘT TIẾP CẬN NHÂN HỌC VĂN HOÁ

     Được giao chủ trì sinh hoạt chuyên đề dưới cờ ngày 04 tháng 08 năm 2025, tại cơ sở 1 trường Đại học Khoa học xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, Khoa Nhân học đã thực hiện bài chuyên đề và trình diễn tiết mục song tấu đàn tranh và violin bài hát Bèo dạt mấy trôi với phần trình bày của ThS. Trần Ngân Hà và ThS. Đoàn Lê Minh Khởi minh họa cho bài thuyết trình với chủ đề "Âm nhạc dân tộc trong bối cảnh hiện nay: Một tiếp cận Nhân học văn hóa". 

     Phần trình bày tập trung vào các nội dung sau: 

     Trong rất nhiều những câu chuyện về Chủ tịch Hồ Chí Minh, có một khoảnh khắc xảy ra vào giai đoạn cuối đời của Người  gắn liền với âm nhạc. Trong những năm cuối đời, khi sức khỏe đã yếu, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã đề nghị được nghe những câu hò ví dặm Nghệ Tĩnh đến từ quê nhà. Không phải là một bản giao hưởng hùng tráng, không phải là khúc quân hành kiêu hùng, cũng không phải là những bài ca chiến thắng, mà chỉ là những giai điệu dân gian gắn bó với tuổi thơ của Người. Vì sao trong năm tháng cuối cùng của cuộc đời, một con người vĩ đại lại khao khát những thanh âm giản dị từ quê hương như thế? Bài trình bày của đại diện khoa Nhân học chia sẻ về những khám phá  về âm nhạc dân tộc và ý nghĩa sâu xa của nó trong tâm hồn của mỗi con người. 

     Ngay từ những năm đầu của cách mạng, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã luôn coi trọng vai trò của nghệ thuật. Người từng nói: "Văn hóa nghệ thuật cũng là một mặt trận. Anh chị em là chiến sĩ trên mặt trận ấy." Không chỉ dừng ở vai trò tuyên truyền hay giáo dục, Bác Hồ còn đặc biệt nhấn mạnh tính dân tộc trong nghệ thuật. Người cho rằng: "Nghệ thuật phải gắn với dân tộc, phải phản ánh được tâm hồn dân tộc". Với Bác, âm nhạc không chỉ là âm thanh, mà là một cách để gìn giữ, biểu đạt, và khơi dậy bản sắc của cả một dân tộc. Từ đó, âm nhạc dân tộc không đơn thuần là truyền thống mà là một phần trong mạch sống văn hoá của người con đất Việt.  

     Từ góc nhìn của nhà nhân học âm nhạc John Blacking (1973), âm nhạc không đơn thuần là tổ hợp âm thanh có cấu trúc, mà là sản phẩm mang tính văn hóa - xã hội, phản ánh cách con người sống, cảm, và gắn bó với nhau trong cộng đồng. Quan điểm này rất gần với tư tưởng của Bác Hồ - rằng âm nhạc phải “gắn với dân tộc”, phải xuất phát từ con người và quay về phục vụ con người. Âm nhạc, dưới quan điểm nhân học, không chỉ là để nghe - mà là nơi lưu giữ ký ức tập thể, nơi con người kể chuyện về chính mình, và nơi bản sắc được thương lượng qua từng thế hệ. 

     Ngày nay, trong bối cảnh toàn cầu hóa, mạng xã hội và sự thay đổi mạnh mẽ của gu thẩm mỹ, nhiều người lo lắng âm nhạc dân tộc sẽ mai một. Vì vậy, có không ít chương trình bảo tồn được triển khai, từ phong danh hiệu nghệ nhân, ghi âm, đưa vào sách giáo khoa, đến biểu diễn sân khấu hóa các thể loại âm nhạc dân tộc khác nhau. Nhưng từ góc nhìn nhân học, chúng ta cần tự hỏi: Liệu một di sản có thể thực sự sống nếu chỉ nằm sau lớp kính trưng bày? Liệu một làn điệu có thể tiếp tục tồn tại nếu chỉ được trình diễn "cho có" trong lễ hội vài năm một lần? Liệu một nhạc cụ có thể có hồn nếu như chỉ được giữ trong bảo tàng mà không gắn với âm thanh giai điệu của người tạo ra nó? 

     Âm nhạc dân tộc không thể chỉ được "bảo tồn" - mà cần được "tiếp tục sống" trong dòng chảy văn hóa hiện tại và trên thực tế, nó vẫn luôn như vậy nếu ta nhìn vào bức tranh âm nhạc hiện nay tại Việt Nam. 

     Nhà nhân học âm nhạc Bruno Nettl (2005) từng nhấn mạnh rằng không có truyền thống âm nhạc nào thực sự bất biến, điều chúng ta gọi là 'giữ gìn' thực chất luôn là một quá trình tái tạo và thương lượng không ngừng. Chúng ta hiểu rằng, khi giới trẻ phối lại dân ca bằng ngôn ngữ âm nhạc đương đại, họ không làm mất đi truyền thống, họ không “phá vỡ” nghệ thuật của cha ông, mà thực chất họ đang đối thoại với quá khứ bằng âm thanh của hiện tại, của xã hội và thế giới đương đại. 

     Một ví dụ rất điển hình là ca khúc "Bắc Bling" - một bài hát rất hot của ca sĩ Hoà Minzy, NSƯT Xuân Hinh và Tuấn Cry, với hơn 100 triệu lượt xem chỉ sau chưa đầy một tháng ra mắt, giữ vị trí Top 1 Âm nhạc Thịnh hành Việt Nam và Top 1 MV Best Debut toàn cầu, đồng thời lọt vào các bảng xếp hạng âm nhạc quốc tế như Úc, Singapore, Hàn Quốc và Đài Loan. Trong bài hát này chất liệu quan họ Bắc Ninh được phối lại với trap, rap, và âm nhạc điện tử. Bài hát này không cố gắng "giữ nguyên hiện trạng" dân ca, mà giữ lại tinh thần và cảm xúc cốt lõi, rồi đặt vào một hình thức âm nhạc đương đại. Có thể với một số người, điều đó là phá cách. Nhưng chính những thử nghiệm như vậy mới cho ta thấy rằng âm nhạc dân tộc không “chết” đi, “mai một” dần đi, chỉ là nó đang “đổi cách sống”.  

     Nhà nhân học âm thanh Steven Feld (1996) từng gọi những trải nghiệm âm thanh là "acoustemology" - tức là cách con người hiểu, cảm, tri nhận thế giới thông qua thính giác và trải nghiệm âm thanh tại chỗ. Theo ông, âm thanh – đặc biệt là âm nhạc – không chỉ là để nghe, mà là một hình thức nhận thức, nơi con người định vị bản thân và kết nối với cộng đồng. Dưới góc nhìn này, không chỉ để biểu diễn hay giải trí - mà âm nhạc dân tộc còn mở ra không gian của ký ức, của bản sắc, nơi chúng ta thương lượng cái tôi cá nhân và cộng đồng rộng lớn.

     Chẳng hạn như Phương Mỹ Chi - một cô gái Gen Z với chất giọng dân ca ngọt ngào - đã mang những "Bà Còng đi chợ trời mưa", “Bà rằng bà rí”, “Lý cây đa”, trống cơm… đến chương trình Sing Asia. Trên sân khấu quốc tế ấy, em không chỉ xuất hiện, em cất tiếng hát. Chính tiếng hát, với giai điệu đồng dao, bài lý mang âm hưởng Bắc bộ khơi gợi chúng ta về một vùng đất, tuổi thơ, một bản sắc dân tộc. Khi Phương Mỹ Chi hát, em đánh thức ký ức văn hóa bằng âm thanh, khiến chúng ta nghe (chứ không chỉ là “nhìn”) và nhận ra bản sắc Việt Nam, mà không cần phải tuyên bố "tôi là người Việt Nam". Bản sắc không phải lúc nào cũng được nhìn thấy mà có những thứ chỉ có thể nghe và hiểu. Và khi em chọn thể hiện những bài hát ấy trên một sân khấu toàn châu Á – nơi luôn có sự so sánh, đánh giá – em không chỉ chia sẻ ký ức dân tộc, mà còn đang thương lượng vị trí của mình: một cá nhân Gen Z giữa một cộng đồng toàn cầu. Trong thương lượng đó, âm nhạc dân tộc trở thành ngôn ngữ để vừa phân biệt nhưng cũng vừa kết nối. Phân biệt để xác nhận bản thân mà không bị hoà tan. Và kết nối để chung sống và đối thoại với thế giới. 

     Quay lại câu hỏi ở đầu buổi trình bày, trước khi qua đời, Bác Hồ từng mong muốn được nghe một câu hò ví dặm Nghệ Tĩnh - giai điệu đã gắn bó với tuổi thơ Người. Tại sao lại như thế? Chúng ta hiểu rằng, chỉ một câu hò thôi - nhưng nó chứa đựng bao nhiêu nỗi nhớ quê, nỗi thương dân, thương đến cả những thứ bình dị và đời thường, và cả niềm tin vào tương lai đất nước. Bởi vì chỉ trong một câu hò ví dặm, thí dụ như “Chứ đi mô rồi cũng nhớ về Hà Tĩnh” (rất tiếc tôi không thể hát được theo đúng phương ngữ), ta nghe được phương ngữ vùng đất Nghệ Tĩnh đặc trưng, những hình ảnh đời thường hằng ngày gắn liền với những lúc ru con, làm ruộng, chèo thuyền… Toàn bộ các ký ức – không chỉ là ký ức tuổi thơ của một người mà của nhiều người, tức ký ức của cả một xã hội – đã được mã hóa, biểu tượng hoá và gói gọn trong những thanh âm đặc trưng của hò ví dặm. Âm nhạc, ở khoảnh khắc ấy, không chỉ là âm thanh - mà là một hình thức hồi tưởng đầy sống động, nơi cá nhân kết nối với cộng đồng và với cả chính mình bằng trải nghiệm thính giác.  

     Cũng chính vì thế mà sau này ca khúc "Lời Bác dặn trước lúc đi xa" khiến bao thế hệ người Việt xúc động. Trong những câu hát người nghe không chỉ xúc động bởi hình ảnh Bác muốn nghe một câu hò Huế, một khúc dân ca xứ Nghệ, hay một làn điệu quan họ Bắc Ninh – những âm thanh đã vượt qua khuôn khổ cá nhân để trở thành biểu tượng văn hoá. Giai điệu ấy không chỉ nói về Bác, mà gợi mở một cảm thức gắn bó sâu xa giữa con người và quê hương. Khi hàng triệu người cùng ngân nga một bài hát, họ không cần nhìn thấy nhau – nhưng vẫn biết mình đang thuộc về cùng một cội nguồn cộng đồng thân thuộc. Đó là lúc âm nhạc tạo nên điều mà Benedict Anderson gọi là “cộng đồng tưởng tượng” – một cộng đồng không được xác lập bằng biên giới hay hiện diện vật lý, mà bằng sự cộng hưởng cảm xúc thông qua biểu tượng âm thanh. 

     Từ góc nhìn nhân học, chúng ta hiểu rằng âm nhạc dân tộc không phải là thứ cần được "cứu" hay "bảo vệ" một cách thụ động. Nó cần được sống, được thở, được tái tạo bởi chính đôi tay và trái tim của chúng ta. Mỗi lần chúng ta hát một bài dân ca, mỗi lần chúng ta nghe và cảm nhận những giai điệu truyền thống, chúng ta không chỉ đang giải trí - mà đang tham gia vào một cuộc đối thoại liên tục giữa quá khứ, hiện tại và tương lai.

     Gần đây, Tổng Bí thư Tô Lâm đã đưa ra quan điểm nhấn mạnh tầm quan trọng của việc tăng cường dạy học các môn văn hóa và nghệ thuật để học sinh phát triển toàn diện, với  mong muốn rằng "học sinh trong thời bình đều được phát triển, làm sao học hết lớp 12 ít nhất phải biết chơi một loại nhạc cụ, tùy gia đình, tùy khả năng và năng khiếu các cháu đăng ký". Đây không chỉ là một chủ trương giáo dục, mà còn là một tầm nhìn sâu sắc về việc xây dựng bản sắc văn hóa cho thế hệ trẻ. Trên khung phân tích xuyên suốt từ đầu đến giờ, chúng ta hiểu rằng, khi mỗi em học sinh biết chơi một nhạc cụ, các em không chỉ học được kỹ năng, không chỉ đơn thuần là “chơi được nhạc” – mà một khi âm thanh được vang lên, các em đồng thời còn học được cách để cảm nhận thế nào là đẹp, cách để thể hiện tiếng lòng mình, và cách kết nối với dòng chảy văn hóa dân tộc.

Một số hình ảnh trong buổi sinh hoạt chào cờ đầu tuần:

 

Cùng tham dự chương trình sinh hoạt chào cờ ngày 4/8/2025 có đại diện của báo Người Lao Động. Xúc động với nội dung truyền cảm hứng mà khoa Nhân học đã thực hiện, Báo cũng đã có đưa bài đăng tin. Chi tiết vui lòng xem link: https://byvn.net/vAQw

 

 

 

 

CHIA SẺ:
Ngày cập nhật: 04/08/2025

Bài viết liên quan