
Nhân kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao Việt Nam và Thái Lan (6/8/1976 - 6/8/2021), vào sáng ngày 26 tháng 3 năm 2021, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, Đại học Quốc gia TP.HCM đã tổ chức Tọa đàm khoa học quốc tế: “Quan hệ Việt Nam - Thái Lan góp phần xây dựng ASEAN thành cộng đồng vững chắc, đoàn kết, thống nhất và phát triển”. Hội thảo đã diễn ra sôi nổi với nhiều kết quả đạt được nhằm nhìn lại chặng hành trình 45 năm trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước từ góc nhìn của Việt Nam và Thái Lan. Thông qua bài phát biểu của ông Apirat Sugondhabhirom Na Phatthalung, Tổng Lãnh sự, Tổng Lãnh sự quán Vương quốc Thái Lan tại TP.HCM với chủ đề “Quan hệ Thái Lan - Việt Nam dưới góc nhìn của Thái Lan”, toạ đàm đã phác hoạ rõ nét những nét tương đồng về mặt văn hoá và mối quan hệ lịch sử lâu đời của hai nước Việt Nam và Thái Lan, cũng như cho thấy tiềm năng hợp tác chặt chẽ và lâu dài trong quan hệ ngoại giao giữa hai nước để đạt được mục tiêu mà các nhà lãnh đạo của hai nước đề ra trong thời gian sắp tới. Phát biểu tại hội thảo, ông Apirat Sugondhabhirom chia sẻ:
Kính thưa:
- PGS.TS Ngô Thị Phương Lan, Hiệu trưởng, trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM
- PGS.TS Phan Thị Hồng Xuân – Trưởng khoa Đô Thị học,
- PGS.TS Hoàng Văn Việt - Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Thái Lan,
- PGS.TS Nguyễn Ngọc Dũng - Nguyên Trưởng khoa Lịch sử,
- Các đồng sự trong Lãnh sự đoàn tại TP.HCM,
- Các giáo sư, các học giả và các em sinh viên,
- Hoà thượng Thích Thiện Tâm
Thưa quý vị và các bạn,
Tôi rất vui mừng có mặt tại đây hôm nay theo lời mời của Trung tâm Nghiên cứu Thái Lan để tham dự Tọa đàm khoa học quốc tế: Quan hệ Việt Nam - Thái Lan góp phần xây dựng ASEAN thành cộng đồng vững chắc, đoàn kết, thống nhất và phát triển với tư cách là diễn giả chính với chủ đề “Quan hệ Thái Lan - Việt Nam dưới góc nhìn của Thái Lan”.
Trong bài tham luận của mình, tôi sẽ đề cập đến các nội dung như quan hệ song phương giữa Thái Lan và Việt Nam, hợp tác kinh tế, giao lưu nhân dân, cũng như hợp tác khu vực và tiểu vùng (bao gồm trong khuôn khổ ASEAN) và chặng đường phía trước.
Cách đây nhiều thế kỷ, tại khu vực mà Thái Lan và Việt Nam tọa lạc ngày nay, chúng ta đã xây dựng mối quan hệ lâu dài trước khi hai nước được hình thành, đặc biệt là trong khía cạnh kết nối giữa con người với con người. Tuy nhiên, ở cấp chính phủ trong thời hiện đại, Vương quốc Thái Lan và Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam đã có mối quan hệ thân thiết kể từ khi thiết lập mối bang giao chính thức vào ngày 6 tháng 8 năm 1976, vì vậy, năm 2021 này là năm đánh dấu kỷ niệm 45 năm thiết lập quan hệ ngoại giao giữa hai nước. Với quan hệ hữu nghị và sự năng động sẵn có trong 4 thập kỷ, từ chính trị, kinh tế, văn hóa và giao lưu nhân dân, quan hệ hai nước đã được nâng lên thành "Đối tác chiến lược" vào năm 2013 và trở thành "Đối tác chiến lược được tăng cường" vào năm 2019 với ý nghĩa hợp tác chặt chẽ hơn và toàn diện hơn trên tất cả các lĩnh vực.
Không thể phủ nhận rằng quan hệ song phương đang phát triển tốt đẹp giữa Thái Lan và Việt Nam là dựa trên nền tảng vững chắc của quan hệ kinh tế và giao lưu nhân dân.
Riêng về kinh tế, Thái Lan đứng thứ 9 về Đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) vào Việt Nam với tổng giá trị lũy kế đạt 12,87 tỷ USD và là đối tác thương mại hàng đầu của Việt Nam trong ASEAN.
Hơn 200 công ty Thái Lan đã và đang đầu tư kinh doanh tại Việt Nam trong nhiều lĩnh vực khác nhau bao gồm năng lượng tái tạo, bán lẻ, hóa dầu, khu công nghiệp, ngân hàng và nông nghiệp. Nhiều công ty, với sự hiện diện lâu đời ở đây, được người dân địa phương biết đến như C.P. Việt Nam, SCG Việt Nam, Ngân hàng Bangkok, Royal Foods và Amata Việt Nam. Royal Foods là nhà sản xuất của nhãn hiệu cá mòi “Ba cô gái” nổi tiếng tại đây.
Liên quan việc này, chủ trương của tôi trong nhiệm kỳ công tác tại Việt Nam là đặt ra một viễn cảnh cùng có lợi cho cả Thái Lan và Việt Nam khi mà các doanh nghiệp Thái Lan đầu tư vào nền kinh tế Việt Nam, các doanh nghiệp Thái Lan sẽ phát triển và lớn mạnh cùng với cộng đồng Việt Nam, mang đến lợi ích cho cả hai bên.
Trong cuộc điện đàm giữa Bí thư Thường trực Bộ Ngoại giao Thái Lan và Thứ trưởng Ngoại giao Việt Nam vào tháng trước, cả hai bên đã nhất trí hướng tới mục tiêu kim ngạch thương mại song phương đạt 20 tỷ đô la Mỹ.
Thưa quý vị và các bạn,
Như tôi đã đề cập trước đó, năm nay đánh dấu kỷ niệm 45 năm quan hệ ngoại giao giữa Thái Lan và Việt Nam. Hai nước sẽ hợp tác chặt chẽ hơn nữa để đạt được mục tiêu mà các nhà lãnh đạo của hai nước đã đề ra, đặc biệt là trên mặt trận kinh tế và quan hệ nhân dân bền chặt.
Do lịch sử quan hệ lâu đời giữa người Thái và người Việt, hai dân tộc chúng ta có những nét tương đồng về văn hóa và truyền thống như giá trị gia đình, ẩm thực, lối sống dựa vào sông nước, coi trọng nông nghiệp và trồng trọt, và quan trọng nhất Thái Lan chính là nơi dừng chân của Chủ tịch Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1936-1937 khi đấu tranh với chủ nghĩa thực dân lúc bấy giờ. Vì vậy, nhân dân Thái Lan và nhân dân Việt Nam cũng cùng nhau chia sẻ một số gắn kết lịch sử và gia đình thông qua hôn nhân và tình hữu nghị.
Hôm nay, tôi rất phấn khởi khi nhận thấy người Việt Nam ngày càng quan tâm nhiều hơn đến văn hóa Thái Lan như ẩm thực Thái Lan, diễn viên Thái Lan, các bài hát tiếng Thái, phim Thái và ngôn ngữ Thái. Thái Lan đã cử tình nguyện viên sang giảng dạy tiếng Thái tại Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn TP.HCM và Đại học Đà Nẵng trong nhiều năm liên tục, hỗ trợ nhiều sinh viên Việt Nam học tập và tốt nghiệp mỗi năm.
Về giao lưu nhân dân, lượng khách du lịch giữa Thái Lan và Việt Nam đang gia tăng trước đại dịch COVID-19 với 298 chuyến bay mỗi tuần. Năm 2019, Thái Lan là một trong những điểm đến du lịch hàng đầu của du khách Việt Nam với hơn một triệu người Việt Nam đến thăm Thái Lan (tăng 1,89% từ 2018) và khoảng 500.000 người Thái đến thăm Việt Nam (tăng 68,52% từ 2018). Tôi rất vui mừng khi được thấy bà Tổng Giám đốc Tổng Cục Du lịch Thái Lan (Văn phòng TP.HCM) cùng có mặt tại khán phòng với chúng ta hôm nay. Nếu các bạn ai có hứng thú tìm hiêu về hợp tác du lịch Thái-Việt thì có thể đặt câu hỏi trực tiếp với bà ấy sau.
Tuy nhiên, kể từ năm ngoái, Việt Nam và Thái Lan cùng với thế giới phải đối mặt với những thách thức nghiêm trọng do đại dịch COVID-19 gây ra, nhưng nó cũng tạo cơ hội cho Thái Lan và Việt Nam cùng chung tay, tăng cường tình hữu nghị thông qua hợp tác giải quyết khủng hoảng và quá trình tái thiết hậu COVID-19.
Nhìn về phía trước, Thái Lan và Việt Nam cần tiếp tục nỗ lực phục hồi chuỗi cung ứng và các hoạt động kinh tế, phát triển nguồn nhân lực, cũng như tìm kiếm các cơ hội mới từ Cách mạng Công nghiệp lần thứ 4 và số hóa.
Thưa quý vị và các bạn,
Ở cấp độ khu vực, Thái Lan và Việt Nam đều là thành viên của Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á hay còn gọi là ‘ASEAN’. Kể từ khi thành lập vào ngày 8 tháng 8 năm 1967, ASEAN đã đạt được một số thành tựu đáng kể. Từ một khu vực bất ổn, ASEAN đã chuyển đổi thành một Cộng đồng năng động, hoà nhập, dựa trên nguyên tắc và lấy người dân làm trung tâm. ASEAN đã mang lại thành công cho các dân tộc của mình một cộng đồng hòa bình, ổn định và khả thi về kinh tế. Với GDP tổng hợp là 3,8 nghìn tỷ USD, ASEAN hiện được xếp hạng là nền kinh tế lớn thứ 5 trên thế giới.
Là một trong năm thành viên sáng lập, Thái Lan tự hào là quốc gia tham gia vào hành trình của ASEAN ngay từ những ngày đầu tiên và trở thành một phần của Cộng đồng ASEAN ngày nay. Bangkok là nơi khai sinh của ASEAN, và tài liệu thành lập ASEAN, Tuyên bố Bangkok được ký kết tại Cung điện Saranrom (văn phòng cũ của Bộ Ngoại giao), Thái Lan được đại diện bởi cố Tiến sĩ Thanat Khoman, lúc đó là Bộ trưởng Ngoại giao Thái Lan, một trong những “Người sáng lập” của ASEAN”. Và hướng đến phía trước, Thái Lan tiếp tục cam kết tăng cường hợp tác trong khuôn khổ ASEAN để củng cố Cộng đồng ASEAN và duy trì hòa bình, an ninh và thịnh vượng trong khu vực. Trong 53 năm qua, Thái Lan đã vinh dự đảm nhận vai trò Chủ tịch ASEAN vào các năm 1995, 2008, 2009 và lần gần đây nhất là 2 năm trước vào năm 2019.
Nhân cơ hội này, tôi xin chúc mừng Việt Nam đã đảm nhiệm thành công vai trò Chủ tịch ASEAN năm 2020 với chủ đề 'Gắn kết và Chủ động thích ứng', trong khi phải đối mặt với nhiều thách thức từ đại dịch COVID-19, Việt Nam đã kịp thời ứng phó với tình huống chưa từng có và dẫn đầu trong việc phối hợp với ASEAN để ứng phó với sự bùng phát dịch bệnh.
Giống như phần còn lại của thế giới, ASEAN hiện đang đối mặt với những bất ổn và gián đoạn lớn hơn do đại dịch COVID-19 gây ra. Tuy nhiên, thời điểm chưa từng có này cũng là cơ hội duy nhất để ASEAN cân nhắc các chiến lược trong việc xây dựng tính bền vững và khả năng phục hồi lâu dài nhằm tự trang bị cho mình trước những bất ổn và thách thức trong tương lai. Đây sẽ là một nhiệm vụ quan trọng đối với ASEAN, đặc biệt khi các nhà Lãnh đạo của chúng ta, tại Hội nghị Cấp cao ASEAN lần thứ 38 vào tháng 11 năm ngoái, đã thông qua Tuyên bố Hà Nội về Tầm nhìn Cộng đồng ASEAN sau năm 2025, khởi động tiến trình của tầm nhìn mới liên quan đến định hướng hoạt động của ASEAN sau năm 2025.
Về vấn đề này, tôi muốn nhắc lại rằng ASEAN đã, đang và sẽ vẫn là nền tảng trong chính sách đối ngoại của Thái Lan. Và chúng tôi sẽ tiếp tục đóng một vai trò tích cực trong việc thúc đẩy hơn nữa Cộng đồng ASEAN và tăng cường khả năng phục hồi và sự bền vững của khu vực, bằng cách nhấn mạnh và thúc đẩy các chương trình nghị sự chính về hội nhập khu vực và mở cửa kinh tế; một Cộng đồng lấy người dân làm trung tâm, nơi tất cả các thành phần của người dân, đặc biệt là nhóm người dễ bị tổn thương sẽ được trao quyền, thúc đẩy và bảo vệ; cũng như chương trình nghị sự phát triển bền vững vốn là một trong những ưu tiên trong nhiệm kỳ Chủ tịch ASEAN của Thái Lan vào năm 2019, bao gồm Sáng kiến Bổ sung và Mô hình Kinh tế Sinh học - Khép kín - Xanh hoặc mô hình BCG.
Trong thời kỳ bình thường mới này, Thái Lan và Việt Nam, cùng với 8 quốc gia Thành viên ASEAN và các đối tác bên ngoài của chúng ta nên hợp tác để ứng phó hiệu quả với COVID-19 và các tác động sâu rộng của nó, thông qua việc thực hiện các sáng kiến ứng phó COVID-19 của ASEAN. Chẳng hạn như việc sử dụng Quỹ ASEAN về ứng phó COVID-19, thực hiện hiệu quả Khuôn khổ phục hồi toàn diện ASEAN và vận hành Kho dự trữ vật tư y tế khu vực ASEAN cho các trường hợp khẩn cấp về y tế cộng đồng.
Bên cạnh những thách thức do đại dịch gây ra, còn có sự đa dạng giữa các quốc gia thành viên ASEAN cũng như địa chính trị đang thay đổi nhanh chóng, do đó, điều quan trọng là ASEAN phải thống nhất và đoàn kết cũng như đề cao vai trò trung tâm và thống nhất của ASEAN nhằm đảm bảo vị thế của ASEAN trong mắt các cường quốc.
Đối với những bạn quan tâm, vui lòng tìm hiểu thêm thông tin về Thái Lan và ASEAN trong bài viết của Ngài Đại sứ Sihasak Phuangketkeow, nguyên Bí Thường trực Ngoại giao Thái Lan, nguyên cấp trên của tôi, người đã phục vụ trong thời điểm Thailand’s ASEAN SOM Leaders (Cuộc họp Lãnh đạo Cấp cao ASEAN Thái Lan). Bài tham luận ‘Tăng cường chủ nghĩa khu vực ASEAN’ được bao gồm trong tài liệu được cung cấp.
Thưa quý vị và các bạn,
Bên cạnh khuôn khổ ASEAN, có những diễn đàn và khuôn khổ tiểu vùng mà Thái Lan và Việt Nam cùng tham gia có thể được triển khai nhiều hơn nữa để vượt qua những thách thức kinh tế - xã hội hiện nay để có thể bắt kịp với sự thay đổi nhanh chóng của tình hình địa chính trị và địa kinh tế, như cũng như tạo ra một tiểu vùng sông Mekong mạnh mẽ, kiên cường và kết nối xuyên suốt, đáp ứng nhu cầu của người dân trong khu vực. Các khuôn khổ đó là Chiến lược hợp tác kinh tế Ayeyawady - Chao Phraya - Mekong (ACMECS) [do Thái Lan khởi xướng và bao gồm Thái Lan, Việt Nam, CHDCND Lào, Myanmar và Campuchia], Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS), Ủy hội sông Mekong (MRC), và Hợp tác Mekong - Lan Thương (MLC); và chúng ta có Tổng Lãnh sự Ấn Độ hiện diện tại đây trong buổi sáng này, và bao gồm luôn cả Hợp tác Mekong – sông Hằng.
Điều đáng quan tâm là vào ngày 13 tháng 3 vừa qua, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã đồng chủ trì hội nghị tại Thành phố Cần Thơ về Phát triển bền vững Đồng bằng sông Cửu Long, với sự tham dự của nhiều Đối tác Phát triển của Việt Nam cùng đại diện của Thái Lan. Tôi hy vọng việc thực hiện Nghị quyết của Chính phủ Việt Nam về vấn đề này sẽ được hưởng lợi từ sự hợp tác trong khuôn khổ ASEAN và khuôn khổ liên quan đến Mekong.
Tôi thực sự tin tưởng rằng sự hợp tác và cộng tác mang tính xây dựng giữa Thái Lan và Việt Nam thông qua các diễn đàn này, hai nước sẽ có thể cùng nhau phát triển mạnh mẽ hơn và cùng nhau phấn đấu trong thời kỳ bình thường mới.
Xin cảm ơn.
Đồng thời, PGS.TS. Hoàng Văn Việt, Giám đốc Trung tâm nghiên cứu Thái Lan cũng đã có bài phát biểu đề cập đến "Quan hệ Việt Nam - Thái Lan – Nhìn từ phía Việt Nam". Nội dung bài phát biểu nhằm đánh giá cao và bày tỏ sự biết ơn sâu sắc đến Chính phủ Thái Lan với những ưu đãi vật chất và cổ vũ tinh thần trong quan hệ hợp tác giữa hai nước trong lĩnh vực giáo dục và các hoạt động giao lưu hoá; đồng thời cho thấy những động lực, mục tiêu dẫn dắt quan hệ Việt Nam - Thái Lan trong quá khứ và hiện tại, luôn không ngừng nỗ lực để góp phần thúc đẩy và củng cố mối quan hệ hai nước đạt được nhiều triển vọng và toàn diện hơn. Phát biểu tại toạ đàm, PGS. TS Hoàng Văn Việt cho rằng:
Những tiếp xúc quan hệ đầu tiên giữa Việt Nam và Thái Lan đã diễn ra từ lâu trong quá khứ. Nhưng mối quan hệ hai nước thật sự trở nên sôi động và gặt hái nhiều kết quả chỉ có thể xuất hiện và được ghi nhận trong vài chục năm gần đây. Thành công của mối quan hệ này có thể trở thành một kiểu mẫu mới trong quan hệ quốc tế hiện đại.
Quan hệ nhà nước kiểu mẫu Việt Nam - Thái Lan đạt được những thành tựu tốt đẹp, toàn diện và triển vọng tiềm tàng như ngày nay là kết quả của những đột phá tư duy mạnh mẽ và những cố gắng nỗ lực phi thường của hai nhà nước, hai dân tộc.
Tháng 8 năm 1988, mệnh đề nổi tiếng của Thủ tướng Thái Lan Thatichai Chunhavan: “Biến Đông Dương từ chiến trường thành thị trường” đã đặt hòn đá tảng kết thúc những con số buồn quanh co trong quá khứ và tạo ra bước ngoặt mới căn bản thay đổi tính cực của mới quan hệ Việt Nam - Thái Lan, cả trong nhận thức, cả trên bình diện thực tế.
Từ cuối thập niên 80 thế kỷ trước, bối cảnh thế giới và khu vực đã thay đổi căn bản theo chiều hướng tích cực. Nhân loại đang tìm kiếm một cơ chế hợp tác văn minh mới đó là: Hợp tác thay thế đối đầu; Liên kết kinh tế thay cho liên minh quân sự; Hòa bình thay thế chiến tranh.
Ở Thái Lan, chính sách CNH-HĐH đất nước của nhà nước đã, một mặt đem lại những kết quả phát triển mang tính bước ngoặt trên mọi lĩnh vực, đặc biệt lĩnh vực kinh tế; mặt khác, xuất hiện không ít khó khăn, thách thức thể hiện sự khiếm khuyết tất yếu của một xã hội truyền thống quá độ lên hiện đại.
Mở rộng thị trường, liên kết, hợp tác quốc tế nhằm phát triển đất nước tiếp tục là nhu cầu bức thiết của Thái Lan. Trong điều kiện thế giới mới, sự khác biệt về chế độ chính trị - xã hội và những tranh chấp quá khứ giữa các quốc gia, dân tộc không còn phù hợp với các chuẩn mực giá trị phát triển. Giáo sư K. Theravit của Thái Lan nhận định: “Chính sách mới cùng tồn tại hòa bình với các nước láng giềng đã đương nhiên xóa bỏ những dấu ấn về sự khác biệt hệ tư tưởng”. Hơn nữa, là hai nước láng giềng không thể phủ nhận sự phụ thuộc vận mệnh lịch sử hai quốc gia.
Với Việt Nam, hệ quả nặng nề của cuộc chiến tranh giải phóng dân tộc lâu dài và đẫm máu cùng với những sai sót tất yếu điều hành chính sách phát triển kinh tế -xã hội (thời kỳ bao cấp 1976 - 1986) của chính phủ đã đưa đất nước đến khủng hoảng trầm trọng, toàn diện và sâu sắc. Tuy nhiên, chính sách “Đổi mới” năm 1986 đã bắt đầu từng bước đưa Việt Nam trên nấc thang phát triển. Chủ trương “Làm bạn với tất cả các nước” trong chính sách đối ngoại của Việt Nam đã tạo nên một hình thức hợp tác quốc tế mới chưa có tiền lệ. Phương châm đối ngoại độc lập, tự chủ, đa phương hóa, đa dạng hóa trên nguyên tắc không can thiệp vào công việc nội bộ của nhau vì mục tiêu phát triển đã tạo cơ hội to lớn cho Việt Nam tham gia tích cực, nhanh chóng và hiệu quả vào hầu hết các cơ chế hợp tác quốc tế và khu vực.
Thái Lan - xuất phát điểm HĐH - CNH sớm hơn và đạt nhiều tiêu chí trình độ phát triển cao hơn Việt Nam. Quan hệ hợp tác của Việt Nam và Thái Lan đem lại nhiều lợi ích về kinh tế, chính trị, khoa học công nghệ. Thái Lan là một trong những thành viên sáng lập ASEAN, có uy tín lớn trong tổ chức này, sẽ trở thành đối tác giúp đỡ, hỗ trợ Việt Nam từng bước tiệm cận quốc tế.
Rõ ràng, lợi ích quốc gia, dân tộc là cốt lõi; trách nhiệm quốc tế là quan trọng đã thúc đẩy sự gắn kết hai quốc gia, hai dân tộc Việt Nam và Thái Lan.
Một nhà kinh tế học cổ điển có kết luận: “Kinh tế sẽ khởi đầu và cũng là kết thúc một chu kỳ sinh vật”. Quan hệ Việt Nam và Thái Lan phát triển đột phá ngoạn ngục trên hầu hết bình diện xã hội hai nước; đặc biệt trênlĩnh vực kinh tế thương mại. Một số con số tổng hợp:
- Lĩnh vực đầu tư: Thái Lan là một trong chín nhà đầu tư lớn nhất tại Việt Nam: với 603 dự án, vốn đầu tư lũy kế đến cuối năm 2020 là 12,8 tỷ USD. Riêng năm 2020 (năm bị ảnh hưởng đại dịch Covit 19), Thái Lan có 40 dự án đăng ký mới, 23 dự án điều chỉnh vốn và 100 lượt góp vốn mua cổ phần vào Việt Nam với tổng vốn đăng ký gần 1,8 tỷ USD (tăng gấp 2 lần so với năm 2019, tăng gần 7 lần so với trong giai đoạn 2015 - 2020). Trong số các dự án lớn, phải kể đến dự án Tổ hợp hóa dầu miền Nam Việt Nam trong tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu, điều chỉnh tăng số vốn lên 1.386 tỷ Baht.
Hình thức đầu tư rất đa dạng; lĩnh vực đầu tư khá phong phú: năng lượng sạch, công nghiệp chế biến - chế tạo, bất động sản, dầu khí, hóa chất, xây dựng,.. Hiện nay ở Việt Nam có 5 tập đoàn của Thái Lan đang hoạt động với quy mô lớn và đóng góp đáng kể vào phát triển kinh tế Việt Nam.
-Trên lĩnh vực thương mại: Thái Lan luôn là đối tác lớn nhất của Việt Nam ở ASEAN trong nhiều năm (chiếm khoảng 30 - 40%). Năm 2019, giá trị tổng kim ngạch xuất nhập khẩu Việt Nam và Thái Lan là 17,5 tỷ USD. Mục tiêu năm 2020, con số này là 20 tỷ.
Hàng hóa trao đổi hai nước là rất đa dạng: may mặc, thủy hải sản, các sản phẩm nông nghiệp, ôtô và phụ kiện ôtô, khoáng sản,... Một ví dụ điển hình là: trong các siêu thị và hệ thống phân phối sản phẩm hàng hóa của Thái Lan đã trở nên phổ biến và được khách hàng Việt Nam rất ưa chuộng.
Tuy nhiên, những hạn chế tất yếu dễ nhận thấy trên lĩnh vực quan hệ hợp tác kinh tế - thương mại giữa hai nước là:
Thứ nhất, cán cân thương mại chênh lệch giữa hai nước. Việt Nam vẫn phải nhập siêu hàng hóa từ Thái Lan. Sự chênh lệch lên tới 6 tỷ USD/năm.
Thứ hai, Thái Lan đang tiệm cận đến nền kinh tế hiện đại. Vì vậy các giá trị công nghệ cao mà Thái Lan đưa vào Việt Nam qua các dự án đầu tư, thương mại - dịch vụ chưa được nhiều, chủ yếu tập trung trên các lĩnh vực chế biến.
Thứ ba, sự non trẻ, thậm chí yếu đuối của nhiều doanh nghiệp lớn của Việt Nam đang dần dần “Thái Lan hóa”. Hệ thống bán lẻ Metro, tập đoàn sữa Vinamilk, Công ty cổ phần cáp điện Thịnh Phát, Công ty cổ phần kim loại màu và nhựa Đồng Việt,... đã dần dần nhượng lại một phần hoặc toàn bộ cả cổ phần cho các tập đoàn kinh tế lớn của Thái Lan.
Thứ tư, các cơ sở và điều kiện thuận lợi chưa hấp dẫn, thu hút các nhà đầu tư trong và ngoài nước; đặc biệt “các thủ tục hành chính rườm rà, sự chồng chéo giữa các quy định pháp luật và cả sự đùn đẩy trách nhiệm một số cán bộ sở ngành”.
Thứ năm, nạn hàng giả, hàng buôn lậu qua biên giới bằng các con đường khác nhau gia tăng mạnh mẽ theo từng thời kỳ, một mặt, vi phạm Luật Sở hữu trí tuệ, mặt khác làm suy giảm niềm tin vào hàng hóa nước ngoài (trong đó có hàng hóa Thái Lan) và làm rối loạn giá cả thị trường.
Thứ sáu, “Đại dịch Covit”, “các điểm nóng” thế giới và khu vực đã đưa Việt Nam trở thành điểm sáng thu hút các nhà đầu tư nước ngoài. Sự cạnh tranh càng trở nên khắc nghiệt hơn giữa các nhà đầu tư Thái Lan và các nhà đầu tư Nhật Bản, Hàn Quốc, Đài Loan.
Hợp tác giáo dục, khoa học công nghệ quốc tế là nhân tố quan trọng thúc đẩy các quốc gia, các dân tộc tham gia thành công vào các cơ chế liên kết khu vực và toàn cầu. Nó góp phần xây dựng nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế - xã hội, hoạt động đối ngoại, giúp tiệm cận các thành tựu khoa học - công nghệ tiên tiến; nâng cao trình độ giáo dục; tăng cường và củng cố mối quan hệ quốc tế giữa các dân tộc, từng bước nâng tầm uy tín mỗi quốc gia. Nói tóm lại, “Giáo dục và khoa học kỹ công nghệ” thời đại ngày nay là quốc sách hàng đầu của mỗi quốc gia.
Việc tiếp cận nền giáo dục Thái Lan của người Việt đã bắt đầu vào những năm 80 thế kỷ trước. Nhưng mối quan hệ hợp tác trên lĩnh vực này được khẳng định và bắt đầu triển khai một cách hệ thống, có lẽ bắt đầu từ năm 2004 khi Bản ghi nhớ về Hợp tác giáo dục giữa hai Chính phủ được ký kết.
Bản ghi nhớ đã tạo hành lang pháp lý khai thông con đường hợp tác giáo dục toàn diện Việt Nam và Thái Lan. Có thể nói, trong quan hệ hai nước, hợp tác giáo dục phát triển mạnh mẽ toàn diện, hiệu quả và triển vọng nhất, tạo ra một kiểu mẫu quan hệ mới trong cộng đồng ASEAN.
Thứ nhất, Chính phủ Thái Lan luôn khuyến khích và dành cho sinh viên Việt Nam những ưu đãi vật chất và cổ vũ tinh thần sang tham gia học tập trong các cơ sở giáo dục Thái Lan, ở mọi cấp độ, trình độ: ngắn hạn, dài hạn, cử nhân, thạc sĩ, tiến sĩ và ở các ngành khoa học khác nhau.
Ngoài học bổng chính thức của Chính phủ Thái Lan, các trường Đại học cũng có những suất học bổng (toàn phần, bán phần) dành cho người học Việt Nam, đặc biệt các trường đại học danh tiếng.
Thứ hai, Chính phủ Thái Lan khuyến khích các cơ sở đào tạo mở rộng hợp tác, liên kết đào tạo với các trường đại học, cao đẳng Việt Nam. Trường Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia TP.HCM là một điển hình hợp tác song phương với các cơ sở giáo dục Thái Lan.
Thứ ba, thông qua các cơ chế Chính phủ (TICA), các Tổng lãnh sự quán và các trường đại học, Chính phủ Thái Lan giúp đỡ, hỗ trợ các cơ sở đại học Việt Nam mở các trung tâm, các ngành đào tạo về Thái Lan. Hiện nay, ở Việt Nam có 3 cơ sở (Hà Nội, Đà Nẵng và TP.HCM). Chính phủ và các trường Thái Lan cung cấp các thiết bị học tập, tài liệu và cử các thiện nguyện viên sang giảng dạy tiếng Thái và văn hóa Thái.
Thứ tư, Chính phủ hai nước đồng ý mở thường niên các lớp bồi dưỡng phương pháp giảng dạy tiếng Thái cho người Việt Nam và tiếng Việt cho giáo viên người Thái (còn rất ít).
Thứ năm, mở rộng và thường xuyên tổ chức các hoạt động giao lưu văn hóa giữa sinh viên của các cơ sở đào tạo hai nước.
Sau thời gian chưa dài kể từ khi bắt đầu chính thức, quan hệ hợp tác giáo dục hai nước đạt kết quả hết sức ấn tượng:
Thứ nhất, đất nước Thái Lan và giáo dục đại học Thái Lan là một địa chỉ uy tín, hấp dẫn lựa chọn của người Việt Nam. Thông qua giáo dục và giao lưu văn hóa, người Việt Nam và cộng đồng người Thái đã có cái nhìn thiện chí, đồng cảm và sẻ chia.
Thứ hai, các cơ sở giáo dục đại học Thái Lan đã giúp Việt Nam đào tạo bổ sung nguồn lợi chất lượng “kiểu Thái”: có tri thức - kỹ năng - lòng nhân ái - niềm tin và tự hào dân tộc.
Tuy nhiên, thẳng thắn nhìn nhận chúng ta vẫn còn thấy những khoảng trống:
Thứ nhất, số người Việt sang Thái Lan học tự túc chưa nhiều mà chủ yếu là những người được cấp học bổng. Cha mẹ các gia đình trung lưu Việt Nam chủ trương đưa con của họ sang học tập ở các nền giáo dục khác có sức cạnh tranh cao hơn như Nhật Bản, Hàn Quốc, Úc, Hoa Kỳ, Anh,...
Thứ hai, chiều hướng hợp tác chủ động hơn thuộc về đối tác Thái Lan. Phía Việt Nam còn phải làm rất nhiều thì mới tạo nên mối “quan hệ đồng đẳng” này.
Thứ ba, phối hợp hợp tác đào tạo chuyển giao, Chính phủ Thái Lan dành sự quan tâm nhiều hơn các lĩnh vực văn hóa, ngôn ngữ Thái mà ít có các chương trình phổ biến công nghệ.
Thứ tư, học sinh phổ thông vẫn là đối tượng chưa được quan tâm nhiều bởi chính phủ Thái Lan.
Sau lĩnh vực hợp tác đào tạo giáo dục, quan hệ hợp tác khoa học - công nghệ giữa hai nước cũng để lại nhiều ấn tượng.
Năm 1997, thông qua việc ký kết Hiệp định hợp tác về khoa học - công nghệ giữa hai chính phủ, các hoạt động hợp tác khoa học - công nghệ Việt Nam - Thái Lan được triển khai thường xuyên:
- Tiến hành các khóa họp thường niên 2 năm một lần ở cấp Bộ trưởng (đến năm 2017 đã diễn ra 7 lần). Mới nhất, ngày 24/12/2018 Chính phủ Việt Nam ra Nghị quyết phê duyệt Hiệp định của Chính phủ Việt Nam và Chính phủ Thái Lan về hợp tác khoa học - công nghệ và Đổi mới sáng tạo.
- Trên cơ sở Hiệp định hai bên đã tăng cường xây dựng và triển khai nhiều dự án hợp tác nghiên cứu chung,khảo sát, đào tạo về một số lĩnh vực thế mạnh của Thái Lan: công nghệ sinh học, công nghệ Nano, công nghệ vật liệu mới, công nghệ sau thu hoạch,..
- Tổ chức các Hội thảo khoa học giữa các cơ sở đào tạo, nghiên cứu khoa học của hai nước (Trong thời gian qua, trường Đại học KHXH và NV, Đại học Quốc gia TP.HCM đã phối hợp với các cá nhân, trường học tổ chức các Hội thảo khoa học quốc tế với quy mô lớn như HTKH về Đông Nam Bộ, về Đối thoại văn hóa Việt Nam - Thái Lan, về Quan hệ văn hóa - xã hội Việt Nam - Thái Lan,..).
Dù quan hệ hai nước trên lĩnh vực khoa học công nghệ có bước tiến bộ nhưng nhìn chung, chúng tôi thấy (riêng lĩnh vực KHXH và NV) vẫn còn nhiều điểm yếu:
Thứ nhất, ở cả Việt Nam và Thái Lan chưa có các nghiên cứu sâu về hai nước, mặc dù có rất nhiều vấn đề nghiên cứu.
Thứ hai, Thiếu các chuyên gia về Thái Lan (ở Việt Nam), về Việt Nam (ở Thái Lan). Ở đây có thể do nhận thức, do kinh phí, do cơ chế? Nếu ở Thái Lan, tổng chi phí nghiên cứu và phát triển chiếm từ 0,25% đến 0,6% GDP (sẽ tăng lên từ 1% đến 1,5%) thì ở Việt Nam con số là 0,03%.
Thứ ba, thiếu các chương trình nghiên cứu phối hợp giữa chuyên gia hai nước. Ở cấp độ chính phủ hoặc cấp độ đại phương có thể thành lập các nhóm chuyên gia hai nước tiến hành xây dựng đề án, khảo sát, nghiên cứu các chương trình lớn. Lực lượng chủ yếu có thể từ hai Đại học Quốc gia của Việt Nam.
Việt Nam đã xây dựng quan hệ đối tác chiến lược với nhiều quốc gia nhưng quan hệ đối tác chiến lược Việt Nam - Thái Lan có thể là một kiểu mẫu cấu hình quan hệ quốc tế hiện đại.
Ở cấp nhà nước, chính phủ: tổ chức các chuyến thăm cấp cao (người đứng đầu Nhà nước, Quốc hội, Chính phủ); Họp Nội các chung Việt Nam - Thái Lan do hai Thủ tướng đồng chủ trì; Lập Ủy ban hỗn hợp về hợp tác song phương Việt Nam - Thái Lan; Tham khảo chính trị cấp Thứ trưởng Bộ Ngoại giao; Lập các Tổ công tác.
Ở cấp địa phương: Xây dựng cơ chế quan hệ kết nghĩa, quan hệ song phương giữa các tỉnh - thành Việt Nam - Thái Lan. Hiện nay, có 13 cặp tỉnh thành Việt Nam - Thái Lan, trong đó có TP. Hồ Chí Minh và thủ đô Bangkok, giúp tăng cường mối liên kết giữa hai quốc gia về hợp tác thương mại, văn hóa, giáo dục. Những chuyến thăm làm việc của lãnh đạo địa phương hai nước, những hoạt động đào tạo bồi dưỡng cán bộ, tổ chức các hoạt động triển lãm kinh tế, văn hóa giáo dục,... đã đem lại nhiều ý nghĩa tốt đẹp.
Trong khuôn khổ khu vực và quốc tế, hai bên tăng cường hợp tác chặt chẽ, hỗ trợ nhau trên nguyên tắccùng có lợi:
- Đại hội Liên nghị viên Hiệp hội các quốc gia Đông Nam Á (AIPA).
- Hợp tác Tiểu vùng Mekong mở rộng (GMS)
- Hành lang kinh tế Đông - Tây (EWEC)
- Diễn đàn an ninh khu vực (ARE)
- Hội nghị cấp cao Đông Á (EAS)
- Diễn đàn hợp tác Á - Âu (ASEM)
- Diễn đàn hợp tác kinh tế châu Á - Thái Bình Dương (APEC)
- Liên hợp quốc (UN)
Đối với nhiều vấn đề “nóng” liên quan đến hai nước, khu vực và quốc tế, chính phủ và nhà nước Việt Nam - Thái Lan luôn tôn trọng, tin tưởng, tìm kiếm sự đồng thuận, nhất trí, tiệm cận hợp lý và giải quyết ổn thỏa: các vấn đề người Thái gốc Việt; tội phạm xuyên quốc gia; đánh bắt cá; xung đột biên giới; chủ nghĩa khủng bố; xung đột sắc tộc; vấn đề Biển Đông; và hiện nay là vấn đề Myanmar.
Để có một kết quả ấn tượng tốt đẹp của quan hệ Việt Nam - Thái Lan như trình bày ở trên, hai nhà nước, hai chính phủ và hai dân tộc đã nỗ lực phi thường vượt những thách đố quá khứ, tìm kiếm và phát huy những sáng tạo mới trong quan hệ hợp tác.
Thành quả của quan hệ hai nước không chỉ đem lại lợi ích cho Việt Nam, Thái Lan mà còn đóng góp không nhỏ cho thành công của cộng đồng các nước ASEAN và cộng đồng thế giới.





