|
VNU LogoHCMUSSH Logo

Hội thảo khoa học quốc gia "Chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học cho Việt Nam"

24/10/2026
Chia sẻ:
Sáng ngày 23/10/2026, Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương phối hợp cùng Khoa Lịch sử và Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM đã tổ chức thành công Hội thảo khoa học quốc gia “Chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học cho Việt Nam”. Tham dự hội thảo có sự góp mặt của các chuyên gia, nhà khoa học và lãnh đạo các đơn vị, tiêu biểu như TS. Đặng Xuân Thanh - Nguyên Phó Chủ tịch Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam, GS.TS. Nguyễn Vũ Tùng - Nguyên Giám đốc Học viện Ngoại giao, PGS.TS. Phạm Hồng Thái - Nguyên Viện trưởng Viện Nghiên cứu Đông Bắc Á, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, TS. Trần Hoàng Long - Nguyên Phó Viện trưởng Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương, PGS.TS. Đỗ Thị Thủy - Quyền Trưởng phòng Biên tập - Trị sự, Ban Khoa học, Thông tin và Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, TS. Nguyễn Tăng Nghị Trưởng Khoa Lịch sử và Quan hệ quốc tế, Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM, PGS.TS. Trần Xuân Hiệp - Trường Đại học Sư phạm, Đại học Đà Nẵng, TS. Ngô Hương Lan, Giám đốc Trung tâm Nghiên cứu Nhật Bản, Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương và TS. Đỗ Thị Ánh - chủ nhiệm nhiệm vụ cùng đông đảo các đại biểu, giảng viên và sinh viên.
Phát biểu khai mạc hội thảo, TS. Nguyễn Tăng Nghị khẳng định: “Sức mạnh của một quốc gia dân tộc ngày nay không chỉ nằm ở lãnh thổ hay tài nguyên mà còn gắn liền mật thiết với năng lực làm chủ khoa học công nghệ, điển hình như trí tuệ nhân tạo (AI)”. Rút ra kinh nghiệm từ thực tiễn của Nhật Bản với triết lý lấy con người làm trung tâm, TS. Nguyễn Tăng Nghị nhận định sự cạnh tranh giữa các cường quốc trong lĩnh vực khoa học công nghệ luôn đi liền với các vấn đề về an ninh dân tộc và quyền riêng tư. Từ đó, ông khẳng định chuyển đổi số là nhiệm vụ đột phá, chiến lược và hội thảo là cơ hội để chắt lọc những bài học đắt giá nhằm giải quyết thách thức chuyển đổi số mà vẫn giữ vững bản sắc, gợi mở chính sách cho các nhà quản trị đất nước.
Ảnh: TS. Nguyễn Tăng Nghị - Trưởng khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế
Tiếp nối chương trình với những phát biểu đề dẫn tại hội thảo, TS. Trần Hoàng Long - Học viện Ngoại giao bày tỏ lòng cảm ơn đến các cấp lãnh đạo trong công tác phối hợp tổ chức hội thảo và nhấn mạnh mục đích của hội thảo là thông qua các tham luận để trao đổi những kinh nghiệm phù hợp với bối cảnh thực tiễn Việt Nam. Theo đó, TS. Trần Hoàng Long gợi mở các trọng tâm nghiên cứu cần đi sâu, trong đó bao gồm việc xem xét khái niệm chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số như một phương thức tích lũy mới để nhận diện ai thực sự là người kiểm soát nền tảng. Từ thực tiễn của Nhật Bản - một quốc gia có nền tảng số hóa rất phát triển, TS. Trần Hoàng Long đề nghị phân tích những đặc điểm riêng biệt trong cách thức tổ chức doanh nghiệp và mối quan hệ giữa nhà nước với doanh nghiệp. Đặc biệt, ông nhấn mạnh cần làm rõ bối cảnh, xác định động lực và phân kỳ các bước phát triển chủ yếu để giải thích tác động của quá trình tiến lên chủ nghĩa số. Đồng thời, các nghiên cứu cần chỉ rõ vai trò của nhà nước trong việc phối hợp với doanh nghiệp và các trường đại học, cũng như bài toán an ninh số xoay quanh việc bảo vệ dữ liệu hay duy trì hoạt động của các hệ thống thiết yếu.
Ảnh: TS. Trần Hoàng Long - Học viện Ngoại giao
Mở đầu phiên tham luận thứ nhất, TS. Đỗ Thị Ánh - Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam trình bày tham luận “Bối cảnh ra đời và các giai đoạn phát triển của chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số ở Nhật Bản từ năm 2000 đến nay”. Báo cáo chỉ ra những động lực thúc đẩy chuyển đổi số tại Nhật Bản, từ tình trạng tăng trưởng kinh tế trì trệ, thiếu hụt lao động đến những thách thức từ môi trường quốc tế. Quá trình này trải qua năm giai đoạn, từ xây dựng hạ tầng công nghệ đến đẩy mạnh phát triển trí tuệ nhân tạo (AI), với vai trò kiến tạo chủ đạo của Nhà nước. Theo TS. Đỗ Thị Ánh, quá trình chuyển đổi số tại Nhật Bản vẫn đang tiếp diễn, trong khi những tác động đến năng suất và năng lực cạnh tranh chưa thực sự rõ nét.
Ảnh: TS. Đỗ Thị Ánh - Viện Nghiên cứu Châu Á - Thái Bình Dương, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Tiếp nối chương trình, PGS.TS. Phạm Hồng Thái - Trường Đại học Văn Hiến mang đến tham luận “Mô hình chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số ở Nhật Bản: Từ chuyển đổi số công nghiệp đến Society 5.0”, tập trung lý giải cách Nhật Bản vận dụng công nghệ để vừa nâng cao năng lực cạnh tranh, vừa giải quyết các thách thức xã hội. Từ chủ trương Connected Industries được thúc đẩy từ năm 2016, Nhật Bản từng bước mở rộng kết nối từ hoạt động sản xuất sang toàn xã hội, hướng đến tầm nhìn Society 5.0 lấy con người làm trung tâm. Theo báo cáo, mô hình này phát huy vai trò định hướng của Nhà nước, tận dụng thế mạnh công nghiệp chế tạo và xem dữ liệu là nguồn lực sản xuất quan trọng. Dù đạt được những tiến bộ đáng kể, PGS.TS. Phạm Hồng Thái cho rằng Nhật Bản vẫn cần giải quyết bài toán khoảng cách số giữa các doanh nghiệp, hạn chế trong tích hợp hệ thống và khó khăn trong phát triển nguồn nhân lực đồng đều.
Ảnh: PGS.TS. Phạm Hồng Thái - Trường Đại học Văn Hiến
Tiếp cận vấn đề từ góc độ quản trị nhà nước, ThS. Huỳnh Hồ Đại Nghĩa - Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn, ĐHQG-HCM đã làm rõ sự chuyển dịch trong phương thức thực thi quyền lực công qua tham luận “Nhà nước kiến tạo trong kỷ nguyên tư bản kỹ thuật số: Từ điều phối ngành đến kiến tạo hệ sinh thái”. Theo đó, chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số không khiến nhà nước suy yếu mà đặt ra yêu cầu tái cấu trúc quyền lực, chuyển từ điều phối từng ngành sang kiến tạo hệ sinh thái thông qua thiết lập tiêu chuẩn, phát triển hạ tầng số và định hướng sự tham gia của các chủ thể thị trường. Từ kinh nghiệm Nhật Bản, tham luận chỉ ra những thách thức từ sự phân mảnh thể chế và phụ thuộc công nghệ trong bối cảnh cạnh tranh Mỹ - Trung, đồng thời làm rõ vai trò của nhà nước trong điều phối nguồn lực và quản trị sự phụ thuộc chiến lược. Qua đó, ThS. Huỳnh Hồ Đại Nghĩa gợi mở cho Việt Nam hướng tiếp cận tự chủ công nghệ có chọn lọc, gắn với nâng cao năng lực điều phối và quản trị, bởi tăng cường năng lực nhà nước không đồng nghĩa với việc tự phát triển mọi công nghệ mà cần xác định rõ những lĩnh vực cần kiểm soát và nguồn lực cần đa dạng hóa.
Ảnh: ThS. Huỳnh Hồ Đại Nghĩa - Giảng viên Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế
Nhìn từ khía cạnh an ninh kinh tế, TS. Nguyễn Vũ Kỳ trong tham luận “Chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số Nhật Bản dưới góc nhìn an ninh kinh tế: Từ chính sách quốc gia đến điều chỉnh tầm nhìn FOIP và hàm ý cho Việt Nam” đã phân tích cách Nhật Bản gắn phát triển công nghệ với mục tiêu bảo đảm an ninh và tự chủ chiến lược. Theo đó, Nhật Bản chú trọng bảo vệ hạ tầng số, thúc đẩy đầu tư vào bán dẫn, điện toán đám mây và trí tuệ nhân tạo, đồng thời điều chỉnh tầm nhìn Ấn Độ Dương - Thái Bình Dương tự do và rộng mở (FOIP) trước những biến động công nghệ và địa chính trị. Từ kinh nghiệm này, TS. Nguyễn Vũ Kỳ nhấn mạnh Việt Nam cần gắn phát triển số với bảo đảm an ninh kinh tế, từng bước chuyển từ tham gia chuỗi giá trị sang đồng kiến tạo hệ sinh thái công nghệ và duy trì quyền tự chủ chiến lược.
Ảnh: TS. Nguyễn Vũ Kỳ - Phó Trưởng khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế
Phần thảo luận diễn ra sôi nổi với nhiều ý kiến đa chiều, tập trung làm rõ bản chất, đặc trưng và tác động của chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số. PGS.TS. Đỗ Thị Thủy nhấn mạnh sự cần thiết của việc xây dựng khung phân tích rõ ràng, vận dụng các lý thuyết về phương thức sản xuất, quan hệ sản xuất và tích lũy tư bản, đồng thời đánh giá khách quan cả thành tựu lẫn hạn chế của mô hình Nhật Bản khi áp dụng tại Việt Nam. Các chuyên gia như PGS.TS. Trần Xuân Hiệp, TS. Nguyễn Tuấn Khanh và TS. Nguyễn Tăng Nghị tiếp tục đặt ra những vấn đề về vai trò của Nhà nước, mối quan hệ giữa Nhà nước và doanh nghiệp, cũng như tác động của AI và dữ liệu đối với quan hệ sản xuất, sự phụ thuộc và công bằng xã hội. Đặc biệt, các ý kiến gợi mở yêu cầu xác định rõ ai nắm giữ tư liệu sản xuất, ai hưởng lợi từ giá trị được tạo ra và cách thức Việt Nam có thể vận dụng kinh nghiệm quốc tế phù hợp với điều kiện thực tiễn.

Ảnh: PGS. TS. Trần Xuân Hiệp - Trường Đại học Sư phạm - Đại học Đà Nẵng

 Ảnh: TS. Nguyễn Tuấn Khanh - Giảng viên Khoa Lịch sử và Quan hệ Quốc tế
Phát biểu tổng kết hội thảo, TS. Đặng Xuân Thanh - Viện Hàn lâm Khoa học xã hội Việt Nam nhấn mạnh sự cần thiết phải nhìn nhận chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số từ những biến đổi căn bản trong lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất, đặc biệt trước sự phát triển mạnh mẽ của trí tuệ nhân tạo (AI). Từ việc đặt ra những vấn đề cốt lõi về quyền sở hữu dữ liệu, vai trò của các tập đoàn công nghệ lớn, cách thức phân phối giá trị thặng dư và những tác động đối với giai cấp lao động, TS. Đặng Xuân Thanh gợi mở câu hỏi liệu chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số chỉ là một giai đoạn phát triển mới của chủ nghĩa tư bản hay đang mở ra những biến đổi sâu sắc hơn về hình thái kinh tế - xã hội. “Việt Nam không nên đứng ngoài những tranh luận này mà cần chủ động nghiên cứu, nắm bắt các chuyển biến để định hướng quá trình phát triển kinh tế số” - TS. Đặng Xuân Thanh phát biểu tại hội thảo.
Ảnh: TS. Đặng Xuân Thanh - Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam
Với các tham luận và trao đổi học thuật đa chiều, Hội thảo khoa học quốc gia “Chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số: Kinh nghiệm của Nhật Bản và bài học cho Việt Nam” đã góp phần làm rõ đặc trưng vận hành, vai trò của nhà nước và những biến đổi về kinh tế, xã hội trong kỷ nguyên số. Qua đó, hội thảo không chỉ bổ sung cơ sở lý luận cho việc nghiên cứu chủ nghĩa tư bản kỹ thuật số mà còn gợi mở những vấn đề chính sách quan trọng, giúp Việt Nam chủ động thích ứng với sự phát triển của công nghệ, nâng cao năng lực tự chủ và định hình chiến lược phát triển phù hợp trong bối cảnh kinh tế toàn cầu đang chuyển đổi.
Ảnh đầy đủ tại đây: tại đây

—
📌 Mọi thắc mắc về chương trình, vui lòng liên hệ:
▸ Ngành Quan hệ Quốc tế: qhqt@hcmussh.edu.vn
📌 Cập nhật thông tin mới nhất về chương trình tại:
▸ Fanpage Ngành Quan hệ Quốc tế: https://www.facebook.com/NganhQHQT/

Chia sẻ:
Ngày cập nhật: 24/10/2026

Bài viết liên quan