Hướng tới khung lý thuyết truyền thông kiến tạo căn tính di cư: Mô hình khả kiến thuật toán về di cư
MỤC LỤC:
Abstract
This article theorizes media as a constitutive media space in the process of diasporic identity formation, integrating three interrelated dimensions: symbolic space, discursive space, and mnemonic-affective space. In contrast to approaches that conceptualize media primarily as channels of connection or repositories of pre-existing symbols, the article foregrounds digital media as a socio-technical environment in which identity does not simply “enter platforms to be expressed” but is generated through symbolic operations, discursive negotiations, and mnemonic-affective practices. Drawing on a Critical Interpretive Synthesis (CIS) of research on migration and media published from 2016 onwards, the article proposes a three-dimensional theoretical framework that elucidates the co-constitution of diasporic identity across symbolic, discursive, and mnemonic-affective dimensions under conditions of platformization and algorithmic media. The innovation of this framework lies in placing the mechanism of visibility at its analytical core: visibility is conceptualized as the likelihood of symbols, voices, and memory objects “being seen, heard, or archived” within the ranking, recommendation, and moderation systems, as well as the engagement metrics of social media platforms. On this basis, the article advances five empirically testable propositions to guide future empirical research and discusses potential points of intervention for digital heritage preservation and community-based communication strategies in multi-platform media environments.
Tóm tắt
Bài viết này lý thuyết hóa truyền thông như một không gian kiến tạo (constitutive media space) trong quá trình kiến tạo căn tính di cư, tích hợp ba chiều: không gian biểu tượng (symbolic space), không gian diễn ngôn (discursive space) và không gian ký ức-xúc cảm (mnemonic-affective space). Khác với các tiếp cận xem truyền thông như kênh kết nối hay kho biểu tượng sẵn có, bài viết nhấn mạnh truyền thông số là một môi trường xã hội-kỹ thuật, nơi căn tính không ''đi vào nền tảng rồi được biểu đạt'' mà được sinh thành trong chính các thao tác biểu tượng, thương lượng diễn ngôn và thực hành ký ức-xúc cảm. Dựa trên phương pháp Tổng hợp diễn giải phê phán (Critical Interpretive Synthesis - CIS) đối với các công trình nghiên cứu về truyền thông di cư giai đoạn 2016 đến nay, bài viết đề xuất một khung lý thuyết ba chiều nhằm làm rõ sự đồng cấu thành căn tính di cư giữa biểu tượng, diễn ngôn và ký ức-xúc cảm trong bối cảnh nền tảng hóa và truyền thông thuật toán. Điểm mới của khung là đưa cơ chế khả kiến (visibility) vào trung tâm phân tích: khả kiến được hiểu như xác suất ''được nhìn thấy/được nghe/được lưu giữ'' của biểu tượng, tiếng nói và đối tượng ký ức trong các hệ thống xếp hạng, gợi ý, kiểm duyệt và các chỉ số tương tác của các nền tảng truyền thông xã hội. Trên cơ sở đó, bài viết phát biểu năm mệnh đề có thể kiểm chứng để định hướng nghiên cứu thực nghiệm và thảo luận các điểm đòn bẩy ứng dụng cho bảo tồn di sản số và chiến lược truyền thông cộng đồng trong môi trường đa nền tảng truyền thông.




